Thông tư liên tịch quy định việc phối hợp giữa cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân với cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam.
Việc phối hợp được thực hiện trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam quy định tại Điều 3 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; bảo đảm đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan theo quy định của pháp luật. Đồng thời, các cơ quan phải chủ động, thường xuyên, chặt chẽ, kịp thời phối hợp, hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ, bảo đảm chế độ bảo mật thông tin theo quy định.
Bảo đảm chặt chẽ trong quản lý, bàn giao và trích xuất người bị tạm giữ, tạm giam
Theo Thông tư, cơ quan đang thụ lý vụ án có trách nhiệm bàn giao cho cơ sở giam giữ tài liệu, hồ sơ kèm theo; đồ vật, tư trang, tiền, tài sản khác của người bị tạm giữ, người bị tạm giam và các thông tin cần thiết liên quan đến người bị tạm giữ, người bị tạm giam, trẻ em dưới 36 tháng tuổi đi theo nếu có. Việc bàn giao nhằm phục vụ công tác phân loại, bố trí giam giữ; đồng thời, cơ quan đang thụ lý vụ án có trách nhiệm bổ sung, thay thế văn bản, tài liệu có sai sót trong quá trình bàn giao.
Trong quá trình giao, nhận, nếu phát hiện người bị tạm giữ, người bị tạm giam có thương tích, bị bệnh nặng, có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi; trình bày đang có thai hoặc có tiền sử sử dụng ma túy thì phải ghi nhận cụ thể trong biên bản giao, nhận.
Trường hợp cơ quan đang thụ lý vụ án, vụ việc xét thấy việc gặp người thân thích có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình giải quyết vụ án, vụ việc thì phải có văn bản đề nghị Thủ trưởng cơ sở giam giữ không đồng ý cho thăm gặp. Văn bản phải nêu rõ lý do, thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc; thời gian không cho gặp người thân thích không được dài hơn thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật.
Cơ sở giam giữ có trách nhiệm thông báo cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam và người thân thích của họ biết về việc không đồng ý cho thăm gặp khi có yêu cầu. Khi chưa hết thời hạn không cho thăm gặp nhưng cơ quan đang thụ lý vụ án, vụ việc nhận thấy việc thăm gặp không còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình giải quyết vụ án, vụ việc thì có văn bản đề nghị Thủ trưởng cơ sở giam giữ giải quyết cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam được gặp người thân thích theo quy định.
Thông tư cũng quy định việc phối hợp bố trí giam giữ nhằm phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Khi cần thiết, cơ quan đang thụ lý vụ án phải có văn bản đề nghị Thủ trưởng cơ sở giam giữ bố trí giam giữ, nêu rõ lý do và thời gian áp dụng; đồng thời thường xuyên trao đổi thông tin, phối hợp bảo đảm an toàn trong quá trình thực hiện.
Cơ sở giam giữ có trách nhiệm phối hợp thực hiện yêu cầu bố trí giam giữ. Trường hợp không thể thực hiện, Thủ trưởng cơ sở giam giữ phải trao đổi ngay bằng văn bản với cơ quan đang thụ lý vụ án. Khi Viện kiểm sát tiến hành kiểm sát việc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam, cơ sở giam giữ phải thông báo cho Kiểm sát viên về việc bố trí giam giữ phục vụ các yêu cầu nghiệp vụ nêu trên.
Việc trao đổi thông tin giữa cơ quan đang thụ lý vụ án, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và cơ sở giam giữ được xác định là yêu cầu thường xuyên. Cơ quan đang thụ lý vụ án có trách nhiệm trao đổi kịp thời diễn biến tư tưởng và các thông tin liên quan đến người bị tạm giữ, người bị tạm giam phục vụ công tác quản lý giam giữ; thông báo bằng văn bản giấy hoặc văn bản điện tử cho cơ sở giam giữ khi chuyển hồ sơ vụ án đến cơ quan khác thụ lý.
Theo yêu cầu của cơ quan đang thụ lý vụ án, cơ sở giam giữ trao đổi thông tin về diễn biến tư tưởng, thái độ chấp hành nội quy, tình trạng sức khỏe và các thông tin liên quan khác của người bị tạm giữ, người bị tạm giam để phục vụ giải quyết vụ án. Cơ sở giam giữ cũng phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đang thụ lý vụ án trước khi hết thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam hoặc gia hạn tạm giam để cơ quan này xử lý kịp thời.
Đối với việc điều chuyển người bị tạm giữ, người bị tạm giam giữa các cơ sở giam giữ, Thủ trưởng cơ sở giam giữ nơi chuyển đi có trách nhiệm bàn giao người, hồ sơ, đồ vật, tư trang, tiền và tài sản đã gửi lưu ký cho cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải. Cơ sở giam giữ nơi tiếp nhận có trách nhiệm tổ chức tiếp nhận, bố trí giam giữ và trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận phải báo cáo Thủ trưởng cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú, đồng thời thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Thông tư quy định cụ thể trách nhiệm phối hợp khi trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam phục vụ các hoạt động tố tụng trong và ngoài khu vực cơ sở giam giữ. Việc trích xuất phải bảo đảm đúng thẩm quyền, có sự phối hợp quản lý, giám sát chặt chẽ, không làm ảnh hưởng đến hoạt động tố tụng và bảo đảm an toàn tuyệt đối.
Đối với trường hợp trích xuất nhiều người cùng một thời điểm hoặc trích xuất người phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, tái phạm nguy hiểm ra ngoài cơ sở giam giữ, cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải phải xây dựng kế hoạch, báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Tòa án có thẩm quyền phải gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử và lệnh trích xuất bị cáo đang bị tạm giam cho cơ sở giam giữ chậm nhất 10 ngày trước khi mở phiên tòa. Cơ quan thực hiện nhiệm vụ áp giải có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, tổ chức áp giải bị cáo đến địa điểm xét xử đúng thời gian, phối hợp với lực lượng bảo vệ phiên tòa bảo đảm an ninh, an toàn trong quá trình áp giải và xét xử.
Thông tư cũng quy định việc phối hợp quản lý người bị tạm giữ, người bị tạm giam khi đưa đi khám bệnh, chữa bệnh ngoài cơ sở giam giữ; thực hiện giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần; giải quyết việc thăm gặp người thân thích, gặp người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự và tiếp xúc với tổ chức nhân đạo.
![]() |
|
Ảnh minh họa. |
Nâng cao trách nhiệm phối hợp xử lý tình huống phát sinh và công tác kiểm sát
Đối với trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam bỏ trốn khỏi cơ sở giam giữ, Thủ trưởng cơ sở giam giữ phải tổ chức ngay lực lượng truy bắt, áp dụng các biện pháp khẩn cấp, bảo vệ hiện trường, lập biên bản và báo cáo cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú trực tiếp. Đồng thời, cơ sở giam giữ phải thông báo ngay bằng văn bản cho cơ quan đang thụ lý vụ án và Viện kiểm sát có thẩm quyền để phối hợp xử lý.
Nếu người bị tạm giữ, người bị tạm giam bỏ trốn trong thời gian được trích xuất ra ngoài cơ sở giam giữ hoặc tại phiên tòa, cơ quan, người có trách nhiệm áp giải phải tổ chức truy bắt ngay, đồng thời thông báo cho cơ sở giam giữ, cơ quan đang thụ lý vụ án và Viện kiểm sát có thẩm quyền. Trên cơ sở thông báo, cơ quan đang thụ lý vụ án có trách nhiệm phối hợp với cơ sở giam giữ và cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp truy bắt, điều tra, xử lý theo quy định.
Thông tư cũng quy định trách nhiệm phối hợp giải quyết trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc con của người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo mẹ vào cơ sở giam giữ chết trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam. Thủ trưởng cơ sở giam giữ có trách nhiệm báo cáo cơ quan quản lý trực tiếp về vụ việc.
Trường hợp người chết không có nơi cư trú rõ ràng, không xác định được người thân thích hoặc người đại diện hợp pháp, Thủ trưởng cơ sở giam giữ trao đổi, thống nhất với Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có thẩm quyền để tổ chức mai táng. Nếu người thân thích có đơn đề nghị nhận tử thi về mai táng, cơ quan điều tra có thẩm quyền phải trao đổi với cơ sở giam giữ về các thông tin liên quan đến việc bảo đảm an ninh, trật tự và vệ sinh môi trường trước khi giải quyết.
Về công tác kiểm sát, cơ sở giam giữ có trách nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam. Hoạt động kiểm sát hằng ngày, hằng tuần phải được ghi sổ theo dõi; nếu phát hiện vi phạm phải lập biên bản có xác nhận của đại diện cơ sở giam giữ và Kiểm sát viên.
Đối với hoạt động kiểm sát định kỳ, đột xuất, Viện kiểm sát phải có quyết định; khi kết thúc phải ban hành kết luận bằng văn bản. Trước khi tiến hành kiểm sát định kỳ ít nhất 5 ngày làm việc, Viện kiểm sát gửi quyết định, kế hoạch cho cơ sở giam giữ. Trường hợp kiểm sát đột xuất không cần lập kế hoạch và không phải gửi trước quyết định.
Khi xảy ra trường hợp bất khả kháng, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có hành vi chống phá, gây rối trật tự, phạm tội mới hoặc phát sinh vụ việc đột xuất ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn cơ sở giam giữ, cơ sở giam giữ phải báo cáo ngay bằng văn bản cho cơ quan quản lý trực tiếp, cơ quan đang thụ lý vụ án và Viện kiểm sát có thẩm quyền để phối hợp xử lý.
Thông tư liên tịch cũng quy định việc huy động lực lượng của cơ sở giam giữ tham gia phối hợp thực hiện hoạt động tố tụng hình sự. Theo đó, cơ quan đang thụ lý vụ án có yêu cầu cơ sở giam giữ cử người tham gia phối hợp phải có văn bản trao đổi trước ít nhất 3 ngày làm việc, trong đó nêu rõ nội dung, yêu cầu, số lượng người tham gia, thời gian và địa điểm thực hiện.
Thông tư liên tịch số 05/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Kể từ thời điểm này, Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 23/1/2018 quy định về quan hệ phối hợp giữa cơ sở giam giữ với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam hết hiệu lực thi hành.
Bài viết chưa có bình luận nào.