Thông tư liên tịch quy định nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự xác định tội phạm, điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt; đồng thời hướng dẫn việc chuyển đổi hình phạt tù đối với người thành niên, người chưa thành niên được chuyển giao từ nước ngoài về Việt Nam tiếp tục chấp hành án.
Bảo đảm việc chuyển đổi hình phạt phù hợp với pháp luật Việt Nam
Theo Thông tư liên tịch, việc chuyển đổi hình phạt tù phải bảo đảm hình phạt được tuyên trong bản án, quyết định của tòa án nước chuyển giao phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự, Luật Tư pháp người chưa thành niên và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.
Việc chuyển đổi phải tuân thủ quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 25 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; không chuyển đổi hình phạt tù thành hình phạt khác.
Khi kiểm tra hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước chuyển giao về Việt Nam theo Điều 21 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Bộ Công an có trách nhiệm đánh giá ban đầu về tội phạm, điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt đối với hành vi mà người được đề nghị chuyển giao đã thực hiện.
Việc đánh giá được căn cứ vào các tình tiết của vụ án nêu trong bản án, quyết định đã được tòa án nước chuyển giao tuyên; trên cơ sở quy định của Bộ luật Hình sự, Luật Tư pháp người chưa thành niên và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.
Trong trường hợp cần thiết, Bộ Công an lấy ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của Bộ Công an, hai cơ quan này có trách nhiệm trả lời bằng văn bản.
Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét yêu cầu chuyển giao căn cứ vào tình tiết vụ án, ý kiến của Bộ Công an và ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp để quyết định việc chuyển đổi hình phạt tù. Nội dung chuyển đổi gồm điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt; được thể hiện trong quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam.
Xác định giới hạn hình phạt theo độ tuổi và tính chất tội phạm
Đối với người thành niên khi phạm tội, Thông tư liên tịch quy định cụ thể giới hạn hình phạt tù sau khi chuyển đổi. Trường hợp người đang chấp hành án bị xử phạt tù có thời hạn trên 30 năm đối với nhiều tội, Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất là 30 năm tù.
Trường hợp người đang chấp hành án bị xử phạt tù có thời hạn trên 20 năm đối với một tội, Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt cao nhất là 20 năm tù.
Đối với trường hợp người đang chấp hành án bị xử phạt tù chung thân nhưng hành vi thực hiện tại nước chuyển giao, theo pháp luật Việt Nam, có mức hình phạt tù có thời hạn, Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định thời hạn phải chấp hành phần hình phạt phù hợp với giới hạn 30 năm tù đối với nhiều tội hoặc 20 năm tù đối với một tội.
Thông tư liên tịch cũng dành quy định riêng đối với người chưa thành niên, căn cứ vào độ tuổi của người phạm tội tại thời điểm thực hiện hành vi.
Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, trường hợp đang chấp hành án tù chung thân thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt cao nhất đến 15 năm tù. Nếu bị xử phạt tù có thời hạn, thời hạn phải chấp hành phần hình phạt cao nhất không quá ba phần năm mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định.
Đối với các tội giết người; hiếp dâm; hiếp dâm người dưới 16 tuổi; cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; sản xuất trái phép chất ma túy, trường hợp bị xử phạt tù chung thân thì thời hạn phải chấp hành phần hình phạt cao nhất đến 18 năm tù. Trường hợp bị xử phạt tù có thời hạn, thời hạn phải chấp hành phần hình phạt cao nhất không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định.
Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, trường hợp bị xử phạt tù chung thân thì thời hạn phải chấp hành phần hình phạt cao nhất đến 9 năm tù. Trường hợp bị xử phạt tù có thời hạn, thời hạn phải chấp hành phần hình phạt cao nhất không quá hai phần năm mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định.
Riêng đối với các tội giết người; hiếp dâm; hiếp dâm người dưới 16 tuổi; cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; sản xuất trái phép chất ma túy, trường hợp bị xử phạt tù chung thân thì thời hạn phải chấp hành phần hình phạt cao nhất đến 12 năm tù. Trường hợp bị xử phạt tù có thời hạn, thời hạn phải chấp hành phần hình phạt cao nhất không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định.
Thông tư liên tịch cũng quy định việc trả tự do đối với người được tiếp nhận về Việt Nam trong trường hợp hình phạt tù sau khi được chuyển đổi bằng hoặc thấp hơn thời gian người đó đã chấp hành án phạt tù ở nước ngoài.
Theo đó, khi Tòa án quyết định tiếp nhận người được đề nghị chuyển giao về Việt Nam và xác định thời gian chấp hành án ở nước ngoài đã bằng hoặc vượt mức hình phạt sau chuyển đổi, Thẩm phán tiến hành phiên họp xem xét yêu cầu chuyển giao phải tuyên bố trả tự do cho người được tiếp nhận. Việc trả tự do được thực hiện sau khi Bộ Công an hoàn thành việc tiếp nhận người đó từ nước ngoài về Việt Nam và hoàn tất các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật.
Thông tư liên tịch số 07/2026/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026, thay thế Điều 19 Thông tư liên tịch số 01/2013/TTLT-BCA-BTP-BNG-VKSNDTC-TANDTC ngày 22/2/2013 của Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao, tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù, trừ trường hợp quy định tại Điều 48 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15.
Bài viết chưa có bình luận nào.