Quy định về phối hợp giám sát việc thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế

05/08/2026 15:22

(kiemsat.vn)
Ngày 28/7/2026, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 13/2026/UBTVQH16 hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 về phối hợp giám sát việc thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế. Nghị quyết số 13/2026/UBTVQH16 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2026.

Nghị quyết quy định cụ thể nguyên tắc, nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục và trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong việc phối hợp giám sát với cơ quan có liên quan của Quốc hội các quốc gia cùng ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi các cam kết quốc tế, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc và phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước.

Theo Nghị quyết số 13/2026/UBTVQH16, phạm vi điều chỉnh bao gồm việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành điểm h khoản 1 Điều 20 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 về nguyên tắc, nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục và trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong tổ chức phối hợp giám sát với cơ quan có liên quan của Quốc hội của quốc gia cùng ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế đối với việc thực hiện các cam kết quốc tế.

Đối với hoạt động phối hợp giám sát việc thực hiện thỏa thuận quốc tế, Nghị quyết áp dụng đối với các thỏa thuận quốc tế giữa bên ký kết Việt Nam gồm Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Văn phòng Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh với bên ký kết nước ngoài.

Phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc và tuân thủ các nguyên tắc đối ngoại

Nghị quyết quy định việc phối hợp giám sát phải tuân thủ các nguyên tắc hoạt động giám sát được quy định tại Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Quy chế hoạt động đối ngoại của Quốc hội và các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

Hoạt động phối hợp giám sát phải bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc; phù hợp với đường lối đối ngoại và bảo đảm sự thống nhất trong quản lý hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Đồng thời, việc phối hợp giám sát phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, các thỏa thuận quốc tế đã ký kết và điều kiện thực tế của các bên tham gia.

Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu không làm phát sinh trách nhiệm pháp lý của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết các tranh chấp liên quan đến điều ước quốc tế (nếu có).

Các hoạt động phối hợp giám sát được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam và trên lãnh thổ của quốc gia có cơ quan của Quốc hội cùng ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế. Đây được xác định là hoạt động đối ngoại của Quốc hội Việt Nam, được tiến hành trên cơ sở thống nhất giữa các cơ quan phối hợp giám sát và tuân thủ pháp luật của mỗi bên.

Tập trung giám sát việc thực hiện các cam kết quốc tế

Về nội dung phối hợp giám sát, Nghị quyết quy định trước hết là việc ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản để thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế của phía Việt Nam và của quốc gia cùng ký kết.

Một nội dung trọng tâm khác là giám sát việc tổ chức thực hiện các cam kết trong điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc đã ký kết.

Trong quá trình giám sát, các cơ quan phối hợp phải đánh giá chất lượng, hiệu quả của việc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế; xác định những hạn chế, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân phát sinh.

Việc đánh giá hiệu quả thực hiện các cam kết phải được đối chiếu, đo lường trên cơ sở các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành tương ứng (nếu có) hoặc các tiêu chí, chỉ số đánh giá phù hợp, qua đó nâng cao tính khách quan và hiệu quả của hoạt động giám sát.

Ngoài các nội dung nêu trên, Nghị quyết cho phép Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và cơ quan có liên quan của Quốc hội quốc gia cùng ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế thống nhất thực hiện các nội dung phối hợp giám sát khác, với điều kiện phù hợp quy định pháp luật của mỗi bên.

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm

(Kiemsat.vn) - Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định trong bối cảnh tổ chức lại các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang