Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025 (sau đây gọi tắt là BLTTHS năm 2015) đã quy định tương đối cụ thể về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm[1], đáp ứng được yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh sắp xếp lại các đơn vị hành chính ở địa phương và việc tổ chức lại hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương (bỏ Cơ quan điều tra (CQĐT) Công an cấp huyện, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, đồng thời tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân theo khu vực, quy định quyền tiến hành một số hoạt động tố tụng cho Điều tra viên là Trưởng Công an, Phó trưởng Công an cấp xã… trong đó có quyền tiến hành các hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra các vụ án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã). Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của BLTTHS năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm cho thấy vẫn còn một số vướng mắc, bất cập nhất định cần tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới.
1. Về tiếp nhận nguồn tin về tội phạm
Thứ nhất, quy định trách nhiệm tiếp nhận nguồn tin về tội phạm chưa thật sự đầy đủ, cụ thể.
Khoản 1 Điều 145 BLTTHS năm 2015 quy định nguyên tắc tiếp nhận nguồn tin về tội phạm: Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Quy định này giúp loại trừ tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan có thẩm quyền trong tiếp nhận các thông tin về tội phạm, giúp phát hiện kịp thời tội phạm, người phạm tội, hạn chế bỏ lọt tội phạm, người phạm tội.
Khoản 2 Điều 145 BLTTHS năm 2015 quy định cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, theo đó, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.
Việc quy định trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc về CQĐT, Viện kiểm sát là phù hợp với vị trí, vai trò cũng như chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan này. Tuy nhiên, quy định “các cơ quan tổ chức khác có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm” (điểm b khoản 2 Điều 145 BLTTHS năm 2015) còn chung chung, chưa chỉ rõ đó là cơ quan, tổ chức nào. Vì vậy, khó có cơ sở để xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong trường hợp có tố giác, tin báo về tội phạm phản ánh với các cơ quan, tổ chức này, nhưng không được các cơ quan, tổ chức đó tiếp nhận hoặc từ chối tiếp nhận; dễ dẫn đến bỏ lọt tội phạm, người phạm tội. Theo tác giả, cần liệt kê cụ thể tên các cơ quan, tổ chức khác có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. Nếu đối chiếu với các quy định khác trong chế định khởi tố vụ án hình sự quy định tại Chương IX BLTTHS năm 2015 thì cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận nguồn tin về tội phạm (tố giác, tin báo về tội phạm) đó là Tòa án, cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (các cơ quan của Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Kiểm ngư, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân)[2], cơ quan báo chí, Công an cấp xã (xã, phường, đặc khu), Đồn công an (tại các cửa khẩu, khu công nghiệp, khu dân cư…) và các cơ quan, tổ chức khác (tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp... Vì vậy, theo tác giả, cần sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 Điều 145 BLTTHS năm 2015 theo hướng quy định cụ thể một số cơ quan mà khả năng tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm cao nhất trong diện các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều này, cụ thể:
… “b. Tòa án, cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cơ quan báo chí, công an cấp xã, đồn công an và các cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm”.
Thứ hai, về thủ tục tiếp nhận nguồn tin về tội phạm.
Theo Điều 146 BLTTHS năm 2015, tùy thuộc vào hình thức phản ánh các thông tin về tội phạm mà có thủ tục tiếp nhận phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể cho các chủ thể cung cấp nguồn tin, cụ thể[3]:
Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì CQĐT, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 145 của BLTTHS năm 2015 phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận. Biên bản tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm phải ghi rõ họ tên và địa chỉ của người tố giác, báo tin có chữ ký xác nhận của họ. Quy định này giúp cho việc kiểm tra, xác minh tin báo, tố giác về tội phạm được thuận lợi, đồng thời có cơ sở để xử lý trách nhiệm của người tố giác, báo tin trong trường hợp tin báo và tố giác không đúng sự thật.
Tuy nhiên, điều luật này chỉ mới quy định thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cho CQĐT, cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát mà không quy định thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm cho Công an cấp xã, Đồn Công an, các cơ quan, tổ chức khác. Tác giả cho rằng, cần quy định thống nhất thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm cho tất cả các cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 145 BLTTHS năm 2015 để có điều kiện kiểm soát mọi nguồn tin về tội phạm, hạn chế các trường hợp tiếp nhận nguồn tin về tội phạm nhưng không lập biên bản, không vào sổ tiếp nhận, dễ dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, Công an cấp xã, Đồn công an đều được biên chế lực lượng chính quy cũng như các điều kiện vật chất, kỹ thuật cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh - trật tự, đấu tranh phòng chống tội phạm ở địa phương. Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 146 BLTTHS năm 2015 theo hướng: Khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, Công an cấp xã, Đồn công an phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận, có thể ghi âm, ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận; cần sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 146 BLTTHS năm 2015 theo hướng: Các cơ quan, tổ chức khác như Tòa án, cơ quan báo chí, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp… khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm phải lập biên bản tiếp nhận.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 146 BLTTHS năm 2015 mới chỉ quy định việc chuyển nguồn tin về tội phạm cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết nếu sau khi tiếp nhận, cơ quan tiếp nhận xác định nguồn tin về tội phạm đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, nhưng lại chưa có quy định về việc phân loại nguồn tin về tội phạm sau khi tiếp nhận để xác định thẩm quyền giải quyết và cũng chưa quy định thời hạn cơ quan, tổ chức tiếp nhận nguồn tin về tội phạm phải chuyển nguồn tin về tội phạm cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong trường hợp kết quả phân loại nguồn tin xác định nguồn tin đã tiếp nhận không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình là chưa hợp lý. Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTTT ngày 29/12/2017 của liên ngành trung ương thì việc phân loại và chuyển nguồn tin về tội phạm cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết cũng như thời hạn thực hiện việc này của cơ quan, tổ chức đã tiếp nhận nguồn tin về tội phạm là 24 giờ kể từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm[4].
Theo tác giả, cần sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 146 BLTTHS năm 2015 theo hướng sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải tiến hành phân loại ngay để trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận nguồn tin phải chuyển nguồn tin đã tiếp nhận không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Ngoài ra, cần sửa đổi, bổ sung khoản 3 và khoản 4 Điều 146 BLTTHS năm 2015 theo hướng quy định cụ thể thời hạn cho Công an cấp xã, Đồn công an, cơ quan, tổ chức khác chuyển nguồn tin đến CQĐT có thẩm quyền (có thể thông báo ngay cho CQĐT có thẩm quyền bằng điện thoại để cơ quan này nắm và quản lý được các nguồn tin về tội phạm và chuyển hồ sơ từ Công an cấp xã, Đồn công an, cơ quan, tổ chức khác đến CQĐT trong phạm vi không quá 24 giờ hoặc 48 giờ kể từ ngày tiếp nhận nguồn tin về tội phạm). Bởi lẽ, sau khi sắp xếp lại về cơ cấu tổ chức (bỏ Công an cấp huyện) Công an cấp xã, Đồn công an được biên chế lực lượng chính quy có khả năng truy xét, thu giữ vật chứng, xác minh sự việc, ghi lời khai người làm chứng, truy tìm đối tượng gây án…, kịp thời giúp CQĐT củng cố tài liệu ban đầu, hỗ trợ CQĐT Công an cấp tỉnh do địa bàn quản lý của các đơn vị này rất rộng, nhiều nơi đi lại khó khăn, việc kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển giao nguồn tin về tội phạm cho CQĐT Công an cấp tỉnh mất không ít thời gian. Tuy nhiên, theo quy định như hiện nay, sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm thì Công an cấp xã, Đồn công an tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay cho CQĐT có thẩm quyền nên đã gây áp lực lớn về công việc cho cả Công an cấp xã, Đồn công an và cả CQĐT có thẩm quyền. Đặc biệt, đối với Công an cấp xã, Đồn công an ở các tỉnh miền núi, hải đảo cách xa trung tâm tỉnh, thành phố, đi lại khó khăn, việc tiếp nhận, tiến hành xác minh sơ bộ và chuyển ngay cho CQĐT có thẩm quyền (CQĐT Công an cấp tỉnh) như quy định hiện hành là không khả thi, nhất là trong điều kiện hiện nay chưa tổ chức CQĐT trong Công an nhân dân theo khu vực bên cạnh Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân khu vực.
Bên cạnh đó, để kiểm sát chặt chẽ hoạt động tiếp nhận và giải quyết nguồn tin về tội phạm của Công an cấp xã trong điều kiện giao trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm cho Điều tra viên là Trưởng Công an hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã, khoản 5 Điều 146 BLTTHS năm 2015 cũng cần được bổ sung theo hướng xác định trách nhiệm thông báo của Công an cấp xã khi được phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm cho Viện kiểm sát để cơ quan này thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Như vậy Điều 146 BLTTHS năm 2015 cần được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 146. Thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. (Giữ nguyên)
2. Sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải tiến hành ngay việc phân loại nguồn tin. Trường hợp phát hiện tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho CQĐT có thẩm quyền. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho CQĐT có thẩm quyền.
3. Khi cá nhân, cơ quan, tổ chức trực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm, Công an cấp xã, Đồn công an phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận, có thể ghi âm, ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận. Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận. Sau khi tiếp nhận, phải phân loại nguồn tin, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo kèm theo đồ vật, tài liệu liên quan cho CQĐT có thẩm quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận.
Trường hợp Công an cấp xã, đồn công an ở các vùng xa xôi, hẻo lánh, biên giới, hải đảo giao thông đi lại khó khăn tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thì có thể chuyển tố giác, tin báo về tội phạm cho CQĐT có thẩm quyền trong hạn 48 giờ kể từ khi tiếp nhận.
Trường hợp được Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng CQĐT Công an cấp tỉnh phân công thì Điều tra viên là Trưởng hoặc Phó trưởng Công an cấp xã tiến hành thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm đối với tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật này.
4. Các cơ quan, tổ chức khác sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm phải lập biên bản tiếp nhận và chuyển cho CQĐT có thẩm quyền trong hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận. Trường hợp khẩn cấp thì có thể báo tin trực tiếp qua điện thoại hoặc hình thức khác cho CQĐT nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản.
5. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc nhận tố giác, tin báo về tội phạm do Cơ quan, tổ chức khác chuyển cho, CQĐT phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền. Sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận.
Trường hợp được Thủ trưởng CQĐT Công an cấp tỉnh phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn, điều tra viên là Trưởng hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã phải báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận quyết định phân công.
2. Về giải quyết nguồn tin về tội phạm
Thứ nhất, thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm quy định tại Điều 145 BLTTHS năm 2015 chưa thực sự đầy đủ, cụ thể.
Điều luật chưa quy định thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm (tin báo, tố giác về tội phạm) cho Công an cấp xã (Điều tra viên là Trưởng hoặc Phó trưởng Công an cấp xã), dẫn đến chưa thống nhất với khoản 1a Điều 37 Bộ luật này về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên. Cụ thể, tại khoản 1 Điều 37 BLTTHS năm 2015 quy định: Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng CQĐT cấp tỉnh được phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này (trong đó có quyền trực tiếp kiểm tra, xác minh và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm, lập hồ sơ vụ án hình sự...) các điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này (trong đó có quyền trực tiếp kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự…)[5], trừ quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Để thực hiện quy định này Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành văn bản hướng dẫn như sau: Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh được Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh ủy quyền (sau đây gọi là Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra hoặc Phó Thủ trưởng được ủy quyền) có thể phân công Điều tra viên là Trưởng Công an, Phó trưởng Công an cấp xã thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã[6].
Vì vậy, theo tác giả cần bổ sung cơ quan Công an cấp xã vào diện cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm để có cơ sở pháp lý cho Công an cấp xã tiến hành các hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.
Theo đó, cần bổ sung điểm d vào khoản 3 Điều 145 BLTTHS năm 2015 với nội dung: “Điều tra viên là Trưởng Công an hoặc Phó trưởng Công an cấp xã giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn của mình theo quyết định phân công của Thủ trưởng hoặc Phó thủ trưởng cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh”.
Thứ hai, quy định thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm trong trường hợp phục hồi giải quyết nguồn tin chưa dự liệu và xác định cách giải quyết các tình huống có thể xảy ra.
Quy định về tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm là điểm mới cần thiết, tạo cơ sở pháp lý cho việc tạm dừng giải quyết nguồn tin về tội phạm, hạn chế tình trạng vi phạm thời hạn. Theo Điều 148 BLTTHS năm 2015, trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, nếu xuất hiện những lý do khách quan dẫn đến tình trạng đã hết thời hạn luật định (kể cả gia hạn) cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm nhưng các cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa thể ra được một trong hai quyết định: Quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự vì tính chất phức tạp của vụ việc, pháp luật cho phép các cơ quan này tạm ngừng việc giải quyết nguồn tin bằng việc ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Việc tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm để có thời gian khắc phục những lý do đã được quy định tại Điều 148 BLTTHS năm 2015 là cần thiết.
Tuy nhiên, quy định về thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm trong trường hợp phục hồi giải quyết nguồn tin chưa dự liệu và xác định cách giải quyết tình huống đã hết thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm sau khi có quyết định phục hồi nhưng vẫn chưa kết thúc được hoạt động này.
Điều 149 BLTTHS năm 2015 quy định: Khi lý do tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không còn, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Đây là trường hợp các cơ quan này đã nhận được kết luận giám định của Hội đồng giám định hoặc kết luận của Hội đồng định giá tài sản hay tài liệu do cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài chuyển đến yêu cầu tương trợ tư pháp hoặc đã qua các cản trở khách quan khác quy định tại Điều 148 BLTTHS năm 2015. Trong trường hợp phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm, thời hạn giải quyết tiếp theo không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định phục hồi.
Quy định thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm sau khi có quyết định phục hồi việc giải quyết chỉ là 01 tháng. Như vậy, nếu thực tiễn xuất hiện những lý do cản trở việc kết thúc giải quyết nguồn tin trong khoảng thời hạn đó thì có tiếp tục giải quyết nữa hay không khi chưa xác định được có hay không có dấu hiệu tội phạm? Nếu tiếp tục giải quyết thì vi phạm thời hạn; nếu không tiếp tục giải quyết thì có thể bỏ lọt tội phạm; nếu lại ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết lần thứ hai thì sẽ kéo dài thời gian giải quyết vụ việc. Theo tác giả, trong trường hợp này, cách giải quyết hợp lý nhất là gia hạn thời hạn giải quyết. Do đó, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 149 BLTTHS năm 2015 về phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm theo hướng được gia hạn thời hạn giải quyết trong trường hợp đã tiến hành giải quyết trong thời hạn 01 tháng như quy định hiện nay mà vẫn không thể kết thúc việc giải quyết nguồn tin về tội phạm do tính chất phức tạp của sự việc, hành vi phản ánh qua nguồn tin hoặc do phát sinh những tình tiết mới cần hoạt động kiểm tra, xác minh phức tạp để tránh vi phạm thời hạn hoặc bỏ lọt tội phạm. Cụ thể, cần bổ sung vào khoản 1 Điều 149 BLTTHS năm 2015 nội dung: Trường hợp do tính chất phức tạp của sự việc hoặc hành vi bị tố giác, báo tin, bị kiến nghị khởi tố thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần nữa không quá 01 tháng. Cụ thể:
Điều 149. Phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Khi lý do tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không còn, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Điều tra viên là Trưởng Công an hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được phân công giải quyết nguồn tin về tội phạm ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định phục hồi.
Trường hợp do tính chất phức tạp của sự việc hoặc hành vi bị tố giác, báo tin hoặc bị kiến nghị khởi tố thì Viện trưởng viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần nữa không quá 01 tháng.
2. (giữ nguyên)”.
Thứ ba, quy định việc giải quyết sự việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện chưa đầy đủ, còn thiếu trường hợp tại phiên tòa xét xử Hội đồng xét xử (HĐXX) phát hiện tội phạm còn bị bỏ lọt cần phải khởi tố, điều tra và yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự.
Điều 151 BLTTHS năm 2015 quy định: Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm thì quyết định việc khởi tố vụ án theo thẩm quyền hoặc chuyển cho cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.Quy định như vậy là chưa đầy đủ, vì còn thiếu địa chỉ mà Tòa án chuyển yêu cầu khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp qua xét xử vụ án tại phiên tòa mà HĐXX phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm. Theo BLTTHS hiện hành, HĐXX không có quyền ra quyết định khởi tố mà chỉ có quyền yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố và văn bản yêu cầu này cùng tài liệu về việc bỏ lọt tội phạm phải chuyển cho Viện kiểm sát mà không chuyển cho CQĐT. Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung Điều 151 BLTTHS năm 2015 như sau:
Điều 151. Giải quyết vụ việc có dấu hiệu của tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm thì quyết định việc khởi tố theo thẩm quyền hoặc chuyển cho CQĐT có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp qua xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm, Hội đồng xét xử yêu cầu Viện kiểm sát có thẩm quyền khởi tố vụ án.
Ngoài ra, khi nghiên cứu những quy định khác của BLTTHS có liên quan đến việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, tác giả thấy rằng, quy định của BLTTHS hiện hành về nghĩa vụ của người bị tố giác, bị báo tin về tội phạm, bị kiến nghị khởi tố còn chung chung, chưa quy định biện pháp, chế tài cụ thể để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của họ trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, gây khó khăn cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố vụ án hình sự.
Cụ thể, Điều 57 BLTTHS năm 2015 quy định người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố “phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm” nhưng hình thức yêu cầu là gì, nếu những đối tượng này không thực hiện yêu cầu đó thì có bị áp dụng chế tài nào không, thì luật không quy định rõ. Mặt khác, nếu họ có mặt nhưng không hợp tác trong việc cung cấp chứng cứ, đồ vật, tài liệu có liên quan đến nguồn tin về tội phạm thì giải quyết thế nào. Điều này dẫn đến những khó khăn cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm khi cần sự có mặt của họ hoặc cần họ cung cấp những thông tin, tài liệu.
Theo tác giả, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng như để xác định cụ thể trách nhiệm của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố nhằm có cơ sở bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của họ trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, khắc phục vướng mắc hiện nay khi họ không tự giác thực hiện nghĩa vụ của mình trong quá trình này, cần sửa đổi, bổ sung Điều 57 BLTTHS năm 2015 theo hướng quy định rõ ràng, cụ thể hơn, theo đó, thay đổi thuật ngữ “yêu cầu” bằng thuật ngữ “triệu tập” cho phù hợp với mối quan hệ tố tụng giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng. Đồng thời, để bảo đảm nghĩa vụ của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bảo đảm sự thống nhất với khoản 2 Điều 127 BLTTHS năm 2015; cần bổ sung thêm vào khoản 2 Điều 57 BLTTHS năm 2015 nội dung: Trong trường hợp qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố có liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm đã bị khởi tố, khi cơ quan có thẩm quyền triệu tập họ và họ đã được nhận giấy triệu tập hợp lệ mà cố tình vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan và sự vắng mặt của họ ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của hành vi họ đã bị tố giác, kiến nghị khởi tố thì có thể bị dẫn giải. Do vậy, Điều 57 BLTTHS năm 2015 cần được sửa đổi như sau:
Điều 57. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố
1. (giữ nguyên).
2. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác và kiến nghị khởi tố.
Trường hợp người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội đã được khởi tố vụ án đã được triệu tập hợp lệ mà cố tình vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải”.
Vũ Gia Lâm
[1] Cụm từ “Nguồn tin về tội phạm” sử dụng trong bài viết này được hiểu theo cách giải thích tại điểm d khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015 gồm: Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện.
[2] Xem: Điều 9 Luật tổ chức CQĐT hình sự năm 2015.
[3] Xem thêm: Điều 146 BLTTHS năm 2015.
[4] Xem: Điều 8 Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT
-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 quy định về mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
[5] Xem: Điều 36 BLTTHS năm 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT; Điều 37 BLTTHS năm 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên.
[6] Xem: Điều 6 Thông tư số 04/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 27/6/2025 của liên ngành trung ương quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự.
Bài viết chưa có bình luận nào.