Tăng cường hiệu quả thực hiện quyền kiến nghị trong lĩnh vực hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

03/08/2026 10:11

(kiemsat.vn)
Thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị khắc phục vi phạm trong hoạt động tư pháp; kiến nghị khắc phục nguyên nhân phát sinh vi phạm, tội phạm. Bài viết đề cập đến vấn đề về đổi mới nhận thức, nâng cao chất lượng kiến nghị của Viện kiểm sát trong lĩnh vực hình sự.

1. Thực trạng công tác kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân

Quyền kiến nghị của Viện kiểm sát được quy định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND)[1], các bộ luật, luật về tư pháp[2] và các quy chế nghiệp vụ của ngành Kiểm sát nhân dân[3]. Theo đó, trách nhiệm thực hiện kiến nghị của các cơ quan, tổ chức cũng được quy định tương ứng[4].

Trong thời gian qua, các cơ quan tư pháp cơ bản đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại, thiếu sót trong hoạt động tư pháp, cần phải tiếp tục khắc phục; nhiều cơ quan, tổ chức chưa thực sự quan tâm đến công tác phòng ngừa tội phạm và vi phạm. Theo số liệu thống kê từ năm 2021 đến năm 2025, thông qua kiểm sát vụ việc, vụ án, Viện kiểm sát các cấp đã ban hành hơn 30.000 kiến nghị. Trong đó, qua trực tiếp kiểm sát ban hành gần 20.000 kiến nghị yêu cầu cơ quan tư pháp khắc phục vi phạm; 9.000 kiến nghị yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan phòng ngừa vi phạm, tội phạm.

Các vi phạm phổ biến thường xảy ra tại Cơ quan điều tra (CQĐT) trong hoạt động giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự như chậm thụ lý; chậm ra thông báo tiếp nhận nguồn tin, chậm quyết định phân công giải quyết nguồn tin về tội phạm; chậm gửi các thông báo tiếp nhận, quyết định phân công cán bộ giải quyết nguồn tin về tội phạm cho Viện kiểm sát; không phục hồi tin báo khi lý do tạm đình chỉ không còn; chưa chủ động trong việc tổ chức xác minh nguồn tin dẫn đến việc phải gia hạn thời hạn xác minh; chậm chuyển hoặc chuyển không đúng nguồn tin đến CQĐT có thẩm quyền; không thông báo cho Viện kiểm sát để kiểm sát khám nghiệm hiện trường; tham gia kiểm sát việc nhận dạng; không lập biên bản giao nhận việc tiếp nhận chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án; thiếu biện pháp đôn đốc việc trưng cầu giám định để giải quyết vụ án tạm đình chỉ; không gửi quyết định phục hồi vụ án; chậm gửi thông báo kết quả khám xét khẩn cấp cho Viện kiểm sát; không thực hiện đầy đủ yêu cầu điều tra dẫn đến phải gia hạn thời hạn điều tra, trả hồ sơ để điều tra bổ sung; ban hành quyết định, lập biên bản về hoạt động điều tra chưa đầy đủ thông tin theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản của CQĐT ban hành chưa đảm bảo quy định… vi phạm thời hạn chuyển vật chứng; vi phạm pháp luật trong việc thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng; vi phạm trong việc thực hiện quy định tại khoản 5 Điều 88 BLTTHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025; vi phạm thời hạn điều tra; vi phạm về việc gửi, tống đạt, thông báo các lệnh, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; không thông báo kết luận giám định và định giá tài sản cho bị can, bị hại; không mời người chứng kiến khi lấy lời khai người không biết chữ. Ở giai đoạn xét xử của Tòa án có một số vi phạm thường gặp như vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn hoãn phiên tòa; vi phạm về thủ tục tố tụng gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo; vi phạm thời hạn gửi quyết định, bản án đến Viện kiểm sát; không áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo; không nêu căn cứ đồng phạm khi quyết định hình phạt; vi phạm trong việc không công bố lời khai của người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa; vi phạm về hình thức, trích dẫn điều luật; không áp dụng biện pháp tư pháp truy thu số tiền thu lợi bất chính của bị cáo để nộp ngân sách nhà nước; chưa nhận định đầy đủ các tình tiết, nội dung liên quan đến vụ án để xử lý vật chứng; nhân thân của bị cáo ghi trong bản án chưa đúng hướng dẫn của Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19/9/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành một số biểu mẫu trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của BLTTHS...

Trong công tác tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự  có một số vi phạm như: Vi phạm về thời hạn ra quyết định tạm giữ; chậm bàn giao người bị tạm giữ vào cơ sở giam giữ theo thời hạn trong quyết định tạm giữ;  công tác quản lý giam giữ còn sơ hở để người bị giam giữ cất giấu, sử dụng vật cấm vào buồng giam; thực hiện chế độ giam giữ có lúc, có nơi chưa đúng quy định pháp luật; không thông báo cho Viện kiểm sát việc trích xuất người bị tạm giam đi khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế; vi phạm trong việc quản lý, giám sát người bị tạm giữ đi khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế nhà nước ngoài khu vực cơ sở giam giữ; vi phạm trong xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù cho phạm nhân; vi phạm trong giải thích quyền, nghĩa vụ của phạm nhân, phổ biến nội quy cơ sở giam giữ và tổ chức cho phạm nhân học tập; sổ sách tạm giữ, tạm giam cập nhật không đầy đủ, một số hồ sơ còn thiếu danh chỉ bản; vi phạm trong công tác lập hồ sơ thi hành án tại cộng đồng và đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo...

Như vậy, các vi phạm diễn ra đa dạng ở tất cả các khâu trong hoạt động tư pháp, đòi hỏi ngành Kiểm sát cần nâng cao hơn nữa công tác kiến nghị, nhằm hạn chế tối đa vi phạm, bảo đảm pháp luật thực hiện nghiêm minh.

Nhìn chung, việc ban hành kiến nghị của VKSND các cấp đối với các cơ quan tư pháp và việc ban hành kiến nghị phòng ngừa vi phạm, tội phạm đối với các cơ quan, tổ chức hữu quan đã bảo đảm về hình thức, bảo đảm các viện dẫn căn cứ pháp lý đầy đủ, nên đa số các kiến nghị của Viện kiểm sát được các cơ quan, tổ chức, cá nhân bị kiến nghị chấp nhận, tiếp thu, khắc phục. Những nội dung kiến nghị của Viện kiểm sát đã giúp các cơ quan, tổ chức hữu quan đặt ra những biện pháp thiết thực, nâng cao hiệu quả hoạt động và chấp hành pháp luật, nâng cao ý thức cảnh giác phòng ngừa tội phạm và vi phạm.

Việc Viện kiểm sát phát hiện vi phạm và kịp thời để ban hành kiến nghị đã góp phần bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc, vụ án hình sự được thực hiện đúng quy định pháp luật; các vi phạm được kịp thời sửa chữa, khắc phục đã góp phần tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ chính trị và nâng cao vị thế, uy tín của VKSND trước Đảng, Quốc hội và Nhân dân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác kiến nghị trong ngành Kiểm sát nhân dân vẫn tồn tại một số hạn chế, cụ thể:

Một là, công tác quán triệt, chỉ đạo, triển khai thực hiện kiến nghị tại một số Viện kiểm sát chỉ mới dừng lại ở mức độ thực hiện chỉ tiêu về số lượng của ngành, của Quốc hội đề ra, chưa chú trọng chất lượng kiến nghị; một số Viện kiểm sát địa phương chỉ tập trung vào việc ban hành kiến nghị trong lĩnh vực trực tiếp kiểm sát, mà chưa tập trung nâng cao kỹ năng phát hiện vi phạm để ban hành kiến nghị và nâng cao chất lượng kiến nghị; công tác kiến nghị phòng ngừa tội phạm và vi phạm chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến số lượng kiến nghị này còn ít.

Hai là, vẫn còn tồn tại nhiều kiến nghị được chấp nhận, nhưng đơn vị bị kiến nghị không có phúc đáp trả lời bằng văn bản[5] và còn có kiến nghị Viện kiểm sát ban hành không được các cơ quan bị kiến nghị chấp nhận, tiếp thu.

Ba là, Viện kiểm sát các cấp chưa chủ động trong việc đôn đốc thực hiện kiến nghị, chưa chủ động áp dụng các biện pháp tác động để các cơ quan bị kiến nghị trả lời theo quy định, chủ yếu thực hiện qua trao đổi do nể nang, ngại va chạm, số lượng kiến nghị có biện pháp tác động bằng văn bản còn ít[6]; có trường hợp khi được trao đổi thì báo cáo đã tiếp thu, chấp nhận nhưng chưa ban hành văn bản phúc đáp. Việc phúc tra chưa được quan tâm và thực hiện thường xuyên[7]. Đồng thời, hoạt động kiểm tra về công tác ban hành kiến nghị cùng cấp và kiểm tra đối với cấp dưới còn hạn chế.

Công tác kiến nghị tại một số Viện kiểm sát địa phương còn mang tính hình thức. Công tác này mới chỉ dừng lại ở việc ban hành văn bản kiến nghị mà chưa làm nổi bật được vai trò, ý nghĩa, mục đích cuối của một bản kiến nghị để thể hiện quyền năng pháp lý mà Đảng, Nhà nước giao cho ngành Kiểm sát như công cụ chấn chỉnh những sai sót, vi phạm đã xảy ra và ngăn chặn những vi phạm có thể tái diễn.

2. Giải pháp nâng cao chất lượng kiến nghị trong ngành Kiểm sát nhân dân

Để làm tốt công tác kiến nghị, các Viện kiểm sát cần phải đổi mới từ tư duy nhận thức, đến hành động thực tế của lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp trong công tác chỉ đạo, điều hành và của từng Kiểm sát viên trong việc nâng cao kỹ năng kiểm sát hoạt động tư pháp; kịp thời nắm bắt các sai sót, vi phạm để ban hành những bản kiến nghị chất lượng, được các cơ quan, tổ chức, cá nhân bị kiến nghị chấp nhận, tiếp thu, khắc phục; đồng thời phải đề ra những biện pháp, cách làm hay để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của bản kiến nghị, góp phần bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức và cá nhân thông qua các phương hướng sau:

- Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt, triển khai thực hiện công tác kiến nghị:

Một là, quán triệt, triển khai thực hiện tốt các quy định của pháp luật, quy chế nghiệp vụ của ngành về thực hiện quyền kiến nghị của Viện kiểm sát; Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 10/10/2025 của Viện trưởng VKSND tối cao; Hướng dẫn số 06/HD-VKSTC ngày 10/02/2025 và Hướng dẫn số 43/HD-VKSTC ngày 28/11/2025 của VKSND tối cao; ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng VKSND tối cao tại Hội nghị giao ban công tác ngành Kiểm sát nhân dân tại Thông báo số 299/TB-VKSTC ngày 12/11/2025.

Hai là, Viện kiểm sát các cấp cần nhận thức rõ vai trò của kiến nghị trong công tác kiểm sát hoạt động tư pháp, tập trung nâng cao chất lượng bản kiến nghị; đồng thời, phân công lãnh đạo và công chức thực hiện nhiệm vụ chỉ đạo, theo dõi thực hiện chuyên đề kiến nghị để kịp thời cập nhật các quy định, chỉ đạo của lãnh đạo VKSND tối cao trong khâu công tác này để tổ chức triển khai thực hiện thống nhất, hiệu quả tại đơn vị.

Ba là, người đứng đầu Viện kiểm sát các cấp cần tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn và tự kiểm tra tại đơn vị. Qua công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện những hạn chế, thiếu sót, vi phạm để chấn chỉnh, khắc phục ngay; tổ chức rút kinh nghiệm, xem xét trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là trách nhiệm đối với những trường hợp người đứng đầu tổ chức thực hiện chưa nghiêm túc, còn mang tính hình thức.

Bốn là, tăng cường công tác tự đào tạo tại chỗ, tổ chức tập huấn nhằm nâng cao kỹ năng phát hiện vi phạm; ban hành kiến nghị và kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kiến nghị, bảo đảm kiến nghị được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.

Năm là, tăng cường trách nhiệm phối hợp giữa Viện kiểm sát cấp trên và Viện kiểm sát cấp dưới trong kiến nghị, nhất là đối với những vi phạm mà Viện kiểm sát cấp dưới phát hiện nhưng không ban hành kiến nghị được; bảo đảm các vi phạm đều được phát hiện, xử lý và khắc phục. Đồng thời, tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan tư pháp trong việc ban hành kiến nghị và thực hiện kiến nghị. Ngoài những quy định của pháp luật, của ngành, Viện kiểm sát các cấp có thể ký quy chế phối hợp liên ngành trong việc ban hành và thực hiện kiến nghị, để bảo đảm kiến nghị thực chất, được các cơ quan tư pháp chấp nhận và khắc phục triệt để. Bên cạnh đó, cần tăng cường áp dụng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số vào công tác kiến nghị như: Lập bảng theo dõi số lượng, loại kiến nghị đã ban hành để kịp thời nắm, theo dõi thời gian thực hiện kiến nghị, kết quả thực hiện kiến nghị... qua đó hỗ trợ hiệu quả công tác tổng hợp, quản lý, chỉ đạo điều hành.

- Nâng cao chất lượng ban hành kiến nghị:

Kiểm sát viên cần nâng cao nhận thức và kỹ năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; trong kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự; trong công tác tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự để kịp thời phát hiện các vi phạm, tích lũy vi phạm làm căn cứ ban hành đúng loại kiến nghị[8], phù hợp với mức độ vi phạm, đối tượng vi phạm và phạm vi kiến nghị. Cụ thể: Đối với những vi phạm cần thiết phải yêu cầu khắc phục ngay thì Viện kiểm sát ban hành kiến nghị đối với vụ việc, vụ án cụ thể có vi phạm; đối với các vi phạm ở mức độ nhỏ, vi phạm thường xuyên xảy ra, vi phạm đã nhắc nhở hoặc ban hành kiến nghị cụ thể rồi mà vẫn vi phạm thì Viện kiểm sát ban hành kiến nghị tổng hợp.

Các kiến nghị phải bảo đảm tính đúng, đủ và cần thiết như: Việc ban hành kiến nghị đối với một cá nhân, cơ quan, tổ chức không chỉ là làm theo biểu mẫu nghiệp vụ của ngành Kiểm sát nhân dân mà khi ban hành một bản kiến nghị, Viện kiểm sát phải xác định đó là thực hiện quyền năng pháp lý và bản kiến nghị sẽ tác động trực tiếp đến cá nhân, cơ quan, tổ chức bị kiến nghị; do đó, bản kiến nghị phải thể hiện đúng nội dung vi phạm đã xảy ra, nêu đủ căn cứ pháp lý, ban hành kiến nghị là cần thiết để chấn chỉnh, yêu cầu khắc phục và tránh vi phạm tái diễn, lặp lại. Nội dung kiến nghị phải có sự lập luận chặt chẽ giữa hành vi vi phạm và hậu quả, vi phạm phải được nêu rõ ràng, cụ thể, có sức thuyết phục; mỗi vi phạm phải với gắn với quy định cụ thể của pháp luật, vi phạm có thể khắc phục được thì yêu cầu khắc phục ngay, vi phạm không thể khắc phục thì yêu cầu xử lý, rút kinh nghiệm...; không sử dụng các thuật ngữ chung chung, khó hiểu, không rõ ràng.

- Bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của bản kiến nghị:

Viện kiểm sát cần thực hiện rà soát số lượng kiến nghị đã ban hành, tiến độ trả lời và kết quả thực hiện của các cơ quan, tổ chức, cá nhân bị kiến nghị để phục vụ công tác tổng hợp, báo cáo, đôn đốc, nhắc nhở thực hiện... Tăng cường áp dụng các biện pháp tác động của Viện kiểm sát đối với các đơn vị bị kiến nghị để thực hiện trả lời kiến nghị theo thời gian quy định. Việc lựa chọn biện pháp tác động tùy thuộc vào mức độ phối hợp thực hiện của các Viện kiểm sát với các đơn vị kiến nghị; có thể thực hiện thông qua các cuộc họp liên ngành, qua trao đổi cấp lãnh đạo các cơ quan, bằng văn bản yêu cầu thực hiện; tuy nhiên, cần thực hiện việc đôn đốc, tác động bằng văn bản bảo đảm tính pháp lý, thể hiện trách nhiệm của ngành Kiểm sát nhân dân, cũng như có cơ sở để đánh giá trách nhiệm của từng cơ quan trong việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Việc áp dụng các biện pháp tác động thể hiện sự quyết liệt trong công tác kiến nghị và thực thi pháp luật, do vậy Viện kiểm sát các cấp cần linh hoạt và chủ động trong hoạt động này.

Mặt khác, cần đổi mới nhận thức về hoạt động phúc tra, đây là biện pháp nghiệp vụ quan trọng nhằm đánh giá chính xác, thực chất việc chấp hành pháp luật của cơ quan, đơn vị bị kiến nghị. Qua phúc tra, kịp thời phát hiện và kiên quyết chấn chỉnh các trường hợp cơ quan, đơn vị có văn bản tiếp thu kiến nghị nhưng trên thực tế không khắc phục hoặc khắc phục mang tính đối phó. Từ đó, bảo đảm mọi kiến nghị của Viện kiểm sát đều được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh, góp phần bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật. Cần xác định phúc tra là hoạt động thường xuyên, đặc biệt tăng cường công tác phúc tra trực tiếp theo kế hoạch, theo đó:

Đối với kiến nghị khắc phục vi phạm pháp luật: Khi xét thấy cần thiết hoặc khi có dấu hiệu chậm trễ trong việc khắc phục, cần chủ động xây dựng kế hoạch, thành lập đoàn phúc tra để kiểm tra trực tiếp việc thực hiện kiến nghị[9].

Đối với kiến nghị phòng ngừa: Cần yêu cầu cơ quan bị kiến nghị gửi kèm văn bản chỉ đạo khắc phục những nội dung mà Viện kiểm sát đã nêu trong kiến nghị, kèm theo văn bản tiếp thu. Trường hợp các cơ quan, tổ chức bị kiến nghị không chấp nhận kiến nghị, Viện kiểm sát các cấp có thể ban hành công văn yêu cầu thực hiện và gửi tới đơn vị cấp trên của đơn vị bị kiến nghị để bảo đảm nghiêm túc thực hiện kiến nghị, góp phần phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.

3. Một số kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật

Một là, Điều 160 BLTTHS hiện hành mới chỉ quy định khi có vi phạm, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện các hoạt động tiếp nhận, kiểm tra, xác minh, ra quyết định giải quyết nguồn tin về tội phạm đầy đủ, đúng pháp luật, khắc phục vi phạm... Để bảo đảm đồng bộ, thống nhất thực hiện quyền năng này xuyên suốt trong các giai đoạn tố tụng, chúng tôi đề xuất cấp có thẩm quyền nghiên cứu, bổ sung quy định về quyền kiến nghị của Viện kiểm sát trong giải quyết nguồn tin tội phạm.

Hai là, cần thể chế hóa cơ chế bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của kiến nghị của Viện kiểm sát theo hướng: Trong trường hợp hết thời gian mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân bị kiến nghị không phúc đáp, không thực hiện khắc phục vi phạm thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị lên cấp trên của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị kiến nghị trước đó; đồng thời có chế tài xử lý cụ thể đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không trả lời kiến nghị, không thực hiện kiến nghị. Ngoài ra, đối với những kiến nghị Viện kiểm sát ban hành mà cơ quan, tổ chức, cá nhân không chấp nhận thì có cơ chế để Viện kiểm sát cấp dưới báo cáo lên Viện kiểm sát cấp trên thực hiện quyền kiến nghị đối với cơ quan, tổ chức cấp trên của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị kiến nghị trước đó để bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh.

Trần Hưng Bình - Nguyễn Thị Yến

-----------------------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

2. Luật tổ chức VKSND năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

3. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025.

4. Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015.

5. Luật thi hành án hình sự năm 2019.

6. Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (ban hành kèm theo Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao).

7. Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao).

8. Quy chế công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số 259/QĐ-VKSTC ngày 20/7/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao).

9. Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 10/10/2025 của Viện trưởng VKSND tối cao.

10. Hướng dẫn 06/HD-VKSTC ngày 10/02/2025 của VKSND tối cao

11. Hướng dẫn 43/HD-VKSTC ngày 28/11/2025 của VKSND tối cao.

12. Thông báo số 299/TB-VKSTC ngày 12/11/2025 thông báo ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hội nghị giao ban công tác ngành Kiểm sát nhân dân của VKSND tối cao.

13. Báo cáo 02/BC-V6 ngày 03/10/2025 về kết quả công tác kiến nghị trong giải quyết vụ việc, vụ án hình sự năm 2025 và số liệu nhiệm kỳ Quốc hội 2021 - 2026.


[1] . Các điểm c, d khoản 3 Điều 4; khoản 2 Điều 5; khoản 5, khoản 7 Điều 15; khoản 2 Điều 17; khoản 6 Điều 19; điểm d khoản 2 Điều 22 Luật tổ chức VKSND năm 2014.

[2] . Điểm p khoản 2 Điều 41; điểm o khoản 1 Điều 42; các điểm a, d khoản 3 Điều 160; các khoản 6, 8 Điều 166; điểm b khoản 1 Điều 237; các khoản 6, 7, 8 Điều 267; khoản 4 Điều 457 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 2 Điều 42 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam; khoản 5 Điều 167 Luật thi hành án hình sự.

[3] . Khoản 2 Điều 13 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (ban hành kèm theo Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao); khoản 1; các điểm e, g khoản 2; điểm c khoản 3 Điều 3 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao); các khoản 7, 10 Điều 5; khoản 2 Điều 7; điểm a khoản 2, các điểm a, b, c khoản 3 Điều 44; Điều 50; Điều 51; điểm c khoản 3 Điều 52; khoản 2 Điều 60 Quy chế công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số 259/QĐ-VKSTC ngày 20/7/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao).

[4] . Khoản 1 Điều 9; khoản 2 Điều 24; điểm e khoản 2 Điều 25; khoản 3 Điều 26 Luật tổ chức VKSND năm 2014; khoản 1 Điều 162; khoản 1 Điều 167; khoản 2 Điều 237 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 4 Điều 43 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam; khoản 5 Điều 169 Luật thi hành án hình sự.

[5] . Từ năm 2021 đến 2025, toàn ngành Kiểm sát nhân dân có 15% số kiến nghị không được các cơ quan bị kiến nghị ban hành văn bản phúc đáp, trả lời.

[6] . Từ năm 2021 đến 2025, toàn ngành Kiểm sát nhân dân chỉ có 608 văn bản.

[7] . Từ năm 2021 đến 2025, Viện kiểm sát các cấp thực hiện phúc tra 6.025 kiến nghị, chiếm 11,6% tổng số kiến nghị khắc phục vi phạm đã ban hành.

[8] . Việc phân loại kiến nghị thực hiện theo Hướng dẫn số 06/HD-VKSTC ngày 10/02/2025 của VKSND tối cao.

[9]  9. Các bước phúc tra trực tiếp và gián tiếp thực hiện theo Hướng dẫn số 06/HD-VKSTC ngày 10/02/2025 của VKSND tối cao.

Bàn về chế định miễn truy tố trong tố tụng hình sự

(Kiemsat.vn) - Việc nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc chế định miễn truy tố là cần thiết đối với pháp luật Việt Nam, nhằm nâng cao hiệu quả công tác tư pháp, giải quyết các vụ án hình sự, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp và xu thế hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, chế định này cần được thực hiện từng bước, có kiểm soát và xây dựng một nền tảng pháp lý vững chắc để tránh lạm quyền và đảm bảo tính công bằng.
(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang