1. Về thủ tục xét xử nhanh trong tố tụng hình sự Trung Quốc
1.1. Khái quát quá trình xây dựng và áp dụng thí điểm thủ tục xét xử nhanh trong tố tụng hình sự Trung Quốc
Chương trình thí điểm việc áp dụng thủ tục xét xử nhanh tại Trung Quốc ra đời trong bối cảnh số lượng các vụ án hình sự, đặc biệt là về các tội nhẹ với mức hình phạt tù dưới 03 năm gia tăng nhanh chóng, trong khi các nguồn lực tư pháp gần như không thay đổi đáng kể, từ đó tạo thêm nhiều áp lực đối với hệ thống tư pháp hình sự.
Ngày 27/6/2014, Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đã thông qua “Quyết định ủy quyền cho Tòa án nhân dân (TAND) tối cao, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao thực hiện thí điểm thủ tục xét xử nhanh đối với vụ án hình sự ở một số địa phương”. Trên cơ sở này, ngày 22/8/2014, TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp đã phối hợp ban hành “Các biện pháp triển khai thí điểm thủ tục xét xử nhanh đối với vụ án hình sự ở một số lĩnh vực” (sau đây gọi tắt là “Các biện pháp thí điểm năm 2014”). Chương trình thí điểm với thời hạn 02 năm chính thức được khởi động, với mục đích thúc đẩy phân luồng các vụ án theo mức độ phức tạp, tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực tư pháp, nâng cao chất lượng và hiệu quả giải quyết các vụ án hình sự, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan, thúc đẩy xã hội hài hòa và ổn định, đồng thời tích lũy kinh nghiệm thực tiễn cho việc cải cách và hoàn thiện Luật tố tụng hình sự (TTHS)[1].
Theo thống kê của VKSND tối cao Trung Quốc, tính đến ngày 30/6/2016, đã có 217 đơn vị địa phương tại 18 tỉnh thành tham gia thí điểm. Viện kiểm sát tại các địa phương thí điểm đã đề nghị áp dụng thủ tục xét xử nhanh đối với 37.279 vụ án trên tổng số 56.420 vụ án đã truy tố (chiếm 66.07%). Số lượng vụ án được áp dụng thủ tục xét xử nhanh bởi các Tòa án thí điểm chiếm 18,48% tổng số vụ án và chiếm 35.88% số vụ án bị tuyên hình phạt tù dưới 01 năm của các Tòa án thí điểm trong cùng thời kỳ. Tỉ lệ kháng cáo của bị cáo trong toàn bộ các vụ án xét xử nhanh là 2.01%, tỉ lệ kháng nghị của Viện kiểm sát là 0.01%, không có kháng cáo của nguyên đơn dân sự. Về thời gian tố tụng, thời gian truy tố của Viện kiểm sát giảm xuống còn 05 ngày so với thời gian trung bình 20 ngày trước đây. Tòa án kết thúc việc xét xử trong vòng 10 ngày đối với 92,35% số vụ án, tỉ lệ tuyên án tại Tòa đạt 96.05%[2]. Việc áp dụng thủ tục xét xử nhanh đã thực sự rút ngắn thời gian tố tụng. Điển hình như một vụ án trộm cắp được xử lý ở Bắc Kinh chỉ mất 13 ngày kể từ khi vụ việc xảy ra đến khi có phán quyết, và một vụ lái xe nguy hiểm khác chỉ mất 03 ngày, từ đó góp phần trừng phạt tội phạm kịp thời và duy trì trật tự xã hội[3]. Có thể nói rằng, kết quả thí điểm bước đầu khá phù hợp với kỳ vọng mà Trung Quốc đặt ra.
Đến năm 2016, trước kết quả của 02 năm thí điểm đầu tiên, TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Công an và các cơ quan khác có liên quan quyết định tiếp tục thí điểm thủ tục xét xử nhanh trong khuôn khổ chương trình thí điểm về hệ thống nhận tội, nhận hình phạt để được hưởng khoan hồng tại một số khu vực. Tuy nhiên, tại thời điểm này, điều kiện áp dụng xét xử nhanh được mở rộng hơn so với năm 2014. Theo đó, xét xử nhanh có thể áp dụng đối với các vụ án thuộc thẩm quyền của TAND cấp cơ sở mà có thể phạt tù không quá 03 năm, trong trường hợp tình tiết rõ ràng, chứng cứ đầy đủ, các bên không tranh chấp về việc áp dụng pháp luật, bị cáo nhận tội, nhận hình phạt và đồng ý áp dụng thủ tục xét xử nhanh[4].
Đáng chú ý nhất, vào năm 2018, thủ tục xét xử nhanh đã chính thức được ghi nhận trong Luật TTHS Trung Quốc. Đây được xem là một bước phát triển quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp hình sự của quốc gia này theo hướng phân luồng vụ án, nâng cao hiệu quả tố tụng và tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực tư pháp. Trong bối cảnh số lượng vụ án hình sự, đặc biệt là các vụ án nhỏ gia tăng nhanh chóng do sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội và xu hướng mở rộng phạm vi tội phạm hóa đối với một số hành vi vi phạm, thủ tục xét xử nhanh đã trở thành một cơ chế quan trọng nhằm giảm tải cho hệ thống tư pháp hình sự. Thông qua việc đơn giản hóa thủ tục tố tụng đối với các vụ án ít nghiêm trọng, thủ tục này cho phép rút ngắn đáng kể thời gian giải quyết vụ án, giảm chi phí tố tụng và nâng cao hiệu suất hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng.
1.2. Quy định hiện hành của pháp luật tố tụng hình sự Trung Quốc về thủ tục xét xử nhanh
Thủ tục xét xử nhanh là một nội dung của chế định nhận tội, nhận hình phạt để được hưởng khoan hồng, đồng thời là một trong ba hình thức tố tụng theo pháp luật TTHS Trung Quốc, bên cạnh thủ tục rút gọn và thủ tục thông thường. Trong đó, “thủ tục thông thường hướng đến công bằng, thủ tục rút gọn hướng đến công bằng và hiệu quả, thủ tục xét xử nhanh hướng đến hiệu quả”[5].
Các quy định về thủ tục xét xử nhanh được ghi nhận tại Mục 4 của Chương II (Thủ tục xét xử sơ thẩm) thuộc Phần thứ ba - Xét xử trong Luật TTHS Trung Quốc năm 2018; đồng thời được hướng dẫn bởi các văn bản dưới luật, trong đó phải kể đến “Ý kiến hướng dẫn về việc áp dụng chế độ khoan hồng trong trường hợp nhận tội và chấp nhận hình phạt” do TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ An ninh quốc gia, Bộ Tư pháp phối hợp ban hành ngày 11/10/2019 (Ý kiến hướng dẫn năm 2019), Giải thích của TAND tối cao về việc áp dụng Luật TTHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ban hành ngày 04/2/2021 (Giải thích của Tòa án năm 2021) và Quy tắc tố tụng hình sự của VKSND ban hành ngày 30/12/2019 (Quy tắc của Viện kiểm sát năm 2019).
- Điều kiện áp dụng:
Theo Điều 222 Luật TTHS năm 2018, thủ tục xét xử nhanh được áp dụng đối với các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của TAND sơ cấp khi có đủ các điều kiện sau đây: (1) Vụ án với mức hình phạt quy định không quá 03 năm tù; (2) Có tình tiết rõ ràng, chứng cứ xác thực, đầy đủ; (3) Bị cáo nhận tội, chấp nhận hình phạt; (4) Bị cáo đồng ý với việc áp dụng thủ tục xét xử nhanh.
Xuất phát từ bối cảnh ra đời cũng như tình hình tội phạm thực tế, thủ tục xét xử nhanh hướng đến việc giải quyết các vụ án nhẹ, do đó các điều kiện về mức độ ít nghiêm trọng và đơn giản của vụ án là không thể thiếu. Tiêu chí về mức độ ít nghiêm trọng, tính đơn giản của vụ án cũng như sự đầy đủ, xác thực của chứng cứ là điều kiện tiên quyết cho việc áp dụng thủ tục xét xử nhanh. Điều này là hợp lý vì những vụ án nghiêm trọng, phức tạp hay chưa đủ chứng cứ thì cần được giải quyết một cách cẩn trọng, không nên và không thể xét xử nhanh. Các tiêu chí này cũng đòi hỏi việc xử lý các vụ án phải dựa trên sự thật, chứng cứ và pháp luật. Từ đó tránh trường hợp nhận tội một cách không trung thực cũng như hạ thấp các yêu cầu về chứng cứ và tiêu chuẩn chứng minh[6].
Bên cạnh đó, pháp luật cũng đặt ra điều kiện về thái độ, ý chí của bị cáo. Việc nhận tội, nhận hình phạt đòi hỏi bị cáo phải tự nguyện và trung thực thừa nhận hành vi phạm tội cũng như sẵn sàng gánh chịu hậu quả pháp lý. Điều đó thể hiện sự nhận thức, ăn năn và thành khẩn của bị cáo đối với hành vi phạm tội. Việc nhận tội đòi hỏi bị cáo phải thừa nhận tất cả các tình tiết của cáo buộc, trừ một số tình tiết cá biệt hay biện giải về tính chất của hành vi[7]. Việc nhận hình phạt không chỉ thể hiện qua bản tuyên thệ mà còn ở các hành động cụ thể khác của bị cáo như giao nộp lại tài sản do phạm tội mà có, bồi thường thiệt hại, xin lỗi… Trong trường hợp bị cáo nhận tội, nhận hình phạt nhưng lại không có thái độ thành khẩn mà ngược lại có những hành vi như tác động đến lời khai của nhân chứng, tiêu hủy hoặc giả mạo chứng cứ, che giấu hoặc chuyển nhượng tài sản, không bồi thường thiệt hại theo đúng khả năng… thì cũng không được xem xét áp dụng thủ tục xét xử nhanh[8].
Cuối cùng, bị cáo cần phải đồng ý với việc áp dụng thủ tục xét xử nhanh. Việc áp dụng thủ tục này rút ngắn về mặt thời gian tiến hành tố tụng và được coi là một sự khoan hồng về mặt thủ tục đối với bị cáo hay nghi phạm. Tuy nhiên, việc cắt giảm thời gian xử lý cũng dẫn đến một số thủ tục tố tụng không được bảo đảm và do đó, một số quyền tố tụng của bị cáo bị hạn chế, chẳng hạn như quyền bào chữa, quyền tranh luận tại Tòa… Vì thế, bị cáo có quyền cân nhắc về việc đồng ý hay từ chối áp dụng thủ tục xét xử nhanh. Trong trường hợp bị cáo đồng ý nhưng sau đó lại muốn thay đổi quyết định thì việc xét xử nhanh có thể bị hủy bỏ và vụ án quay lại với thủ tục rút gọn hoặc thủ tục thông thường.
Theo Điều 223 Luật TTHS năm 2018, thủ tục xét xử nhanh sẽ không được áp dụng nếu vụ án thuộc bất kỳ trường hợp nào sau đây: (1) Bị cáo là người mù, điếc, câm hoặc là người mắc bệnh tâm thần chưa hoàn toàn mất khả năng nhận thức hoặc khả năng kiểm soát hành vi của mình; (2) Bị cáo là người chưa thành niên; (3) Vụ án có ảnh hưởng xã hội nghiêm trọng; (4) Trong vụ án đồng phạm, một số bị cáo có ý kiến phản đối đối với các tình tiết phạm tội bị truy tố, tội danh, hình phạt đề xuất hoặc việc áp dụng thủ tục xét xử nhanh; (5) Bị cáo và bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ chưa đạt được thỏa thuận hòa giải hoặc thỏa thuận liên quan đến bồi thường trong vụ kiện dân sự kèm theo; (6) Các trường hợp khác không phù hợp để xét xử theo thủ tục xét xử nhanh.
- Thẩm quyền áp dụng:
Theo pháp luật TTHS Trung Quốc hiện hành, thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục xét xử nhanh thuộc về TAND sơ cấp. Theo đó, sau khi nhận được bản cáo trạng và hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến, Tòa án phải tiến hành xem xét các tình tiết của vụ án và đánh giá vụ án có đáp ứng các điều kiện áp dụng thủ tục xét xử nhanh hay không. Trường hợp Viện kiểm sát đề nghị áp dụng thủ tục xét xử nhanh thì khi tống đạt bản sao cáo trạng, Tòa án phải thông báo cho bị cáo về các quy định pháp luật liên quan đến thủ tục xét xử nhanh, đồng thời hỏi ý kiến bị cáo về việc có đồng ý áp dụng thủ tục này hay không. Nếu bị cáo đồng ý và vụ án đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định, Tòa án có thể quyết định áp dụng thủ tục xét xử nhanh và thông báo cho Viện kiểm sát cũng như người bào chữa trước khi mở phiên tòa.
Trong trường hợp Viện kiểm sát không đề nghị áp dụng thủ tục xét xử nhanh, Tòa án vẫn có thể tự mình quyết định áp dụng thủ tục này nếu xét thấy vụ án đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật, đồng thời thông báo cho Viện kiểm sát và người bào chữa trước khi xét xử. Ngoài ra, bị cáo và người bào chữa cũng có quyền đề nghị Tòa án áp dụng thủ tục xét xử nhanh[9].
Có thể nói, theo pháp luật TTHS Trung Quốc, mặc dù quyền quyết định cuối cùng về việc áp dụng thủ tục xét xử nhanh thuộc về Tòa án nhưng Viện kiểm sát cũng giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc khởi xướng và thúc đẩy áp dụng thủ tục này. Ngay từ giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát có trách nhiệm xem xét các điều kiện áp dụng thủ tục xét xử nhanh và đề nghị Tòa án áp dụng nếu xét thấy đủ điều kiện. Tuy nhiên, đề nghị của Viện kiểm sát không mang tính bắt buộc đối với Tòa án. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án vẫn phải tiến hành xem xét độc lập về tính phù hợp của việc áp dụng thủ tục này. Trong trường hợp xét thấy vụ án không đáp ứng hoặc không còn đáp ứng các điều kiện áp dụng, Tòa án có thể quyết định xét xử thông thường hoặc xét xử rút gọn thay vì xét xử nhanh.
- Thủ tục, thời hạn áp dụng:
Giai đoạn truy tố: Thủ tục xét xử nhanh hướng trọng tâm đến quá trình xét xử đối với một số vụ án hình sự thoả mãn các điều kiện luật định. Tuy nhiên, các điều kiện áp dụng thủ tục này có thể được xem xét tại những giai đoạn trước đó như điều tra, đặc biệt là trong giai đoạn truy tố. Nếu xét thấy vụ án đáp ứng đầy đủ các điều kiện, Viện kiểm sát có thể đề nghị Tòa án áp dụng thủ tục xét xử nhanh. Khi đó, nội dung bản cáo trạng có thể được đơn giản hóa một cách thích hợp, tập trung vào các tình tiết của cáo buộc và pháp luật áp dụng[10]; đồng thời phải ghi rõ lời nhận tội, chấp nhận hình phạt của bị cáo[11].
Một điều đáng lưu ý là trong các vụ án mà nghi phạm nhận tội và nhận hình phạt nói chung, Viện kiểm sát phải đưa ra đề nghị về mức hình phạt, trong khi điều này là không bắt buộc đối với những vụ án thông thường[12]. Theo Điều 33 Ý kiến hướng dẫn năm 2019, trước khi đưa ra hình phạt đề xuất, Viện kiểm sát phải lắng nghe đầy đủ ý kiến của nghi phạm, người bào chữa hoặc Luật sư trực ban[13], đồng thời cố gắng đạt được sự thống nhất thông qua trao đổi. Đề nghị về hình phạt có thể được lập thành văn bản riêng hoặc ghi rõ trong bản cáo trạng. Nghi phạm cũng phải thể hiện rõ việc chấp nhận hình phạt đề xuất này thông qua việc ký vào bản tuyên thệ, trừ một số trường hợp luật định thì có thể không ký, chẳng hạn nghi phạm là người mù, điếc, câm hoặc là người tâm thần nhưng chưa mất hoàn toàn khả năng nhận thức và làm chủ hành vi[14]. Trong trường hợp này, hình phạt đề xuất của Viện kiểm sát tương đối có giá trị ràng buộc đối với phán quyết cuối cùng của Tòa án.
Mặt khác, việc rút ngắn thời hạn tố tụng cũng được diễn ra ngay từ giai đoạn truy tố. Theo Điều 172 Luật TTHS năm 2018, trong trường hợp nghi phạm nhận tội và chấp nhận hình phạt; các điều kiện áp dụng thủ tục xét xử nhanh đều được thỏa mãn thì Viện kiểm sát phải ra quyết định trong thời hạn 10 ngày, trường hợp vụ án có thể bị tuyên phạt trên 01 năm tù thì thời hạn này có thể được gia hạn đến 15 ngày. Như vậy, so với thời hạn truy tố trong thủ tục chung (01 tháng đối với vụ án thông thường, có thể gia hạn thêm 15 ngày trong trường hợp vụ án nghiêm trọng, phức tạp), thời hạn truy tố đối với vụ án áp dụng tố tụng xét xử nhanh đã được rút ngắn một cách đáng kể.
Giai đoạn xét xử sơ thẩm: Một trong những đặc điểm nổi bật của thủ tục xét xử nhanh là sự rút ngắn về thời hạn và đơn giản hóa đáng kể các thủ tục tố tụng cả trước và trong phiên tòa xét xử. Theo Điều 225 Luật TTHS năm 2018, đối với vụ án được xét xử theo thủ tục này, TAND phải giải quyết và kết thúc vụ án trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thụ lý; trường hợp có thể tuyên phạt tù có thời hạn trên 01 năm thì thời hạn này có thể được kéo dài đến 15 ngày. Để đẩy nhanh quá trình tố tụng, trước khi mở phiên tòa, việc tống đạt, thông báo của Tòa án được thực hiện một cách nhanh gọn. Theo đó, Tòa án có thể thực hiện “tống đạt tập trung”, nghĩa là tống đạt nhiều văn bản tố tụng trong cùng một lần thay vì phải tống đạt riêng biệt; việc tống đạt cũng không cần tuân theo thời hạn như trong thủ tục thông thường.
Tại phiên tòa, vụ án sẽ được xét xử bởi một Thẩm phán thay vì một Hội đồng xét xử[15]. Việc đọc cáo trạng của Viện kiểm sát được thực hiện một cách nhanh gọn. Việc điều tra và tranh luận tại phiên tòa được lược bỏ, nhưng phải nghe ý kiến của Luật sư bào chữa và lời nói cuối cùng của bị cáo trước khi tuyên án[16]. Có thể thấy, do đặc điểm của vụ án xét xử nhanh là tình tiết đơn giản, chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, bị cáo đã nhận tội, Viện kiểm sát cũng thường đưa ra hình phạt đề xuất trước khi xét xử[17], bị cáo về cơ bản đã biết trước hậu quả pháp lý của hành vi nhận tội và chấp nhận điều đó, vì vậy tính đối kháng trong tố tụng tại phiên tòa đã giảm đi đáng kể, và cũng không cần thủ tục phức tạp để khám phá sự thật. Do đó, thủ tục xét xử được đơn giản hóa và tập trung vào việc xem xét tính tự nguyện trong lựa chọn của bị cáo.
Như đã đề cập, trong trường hợp nhận tội, nhận phạt nói chung và xét xử nhanh nói riêng, hình phạt đề xuất của Viện kiểm sát tương đối có giá trị ràng buộc đối với phán quyết cuối cùng của Tòa án. Theo đó, Tòa án thường phải chấp nhận cáo trạng và hình phạt đề xuất mà Viện kiểm sát đưa ra, trừ những trường hợp luật định[18]. Trong khi xét xử, nếu Tòa án xét thấy hình phạt đề xuất là không phù hợp hoặc bị cáo, người bào chữa có ý kiến phản đối hình phạt đề xuất một cách chính đáng thì Tòa án thông báo cho Viện kiểm sát và Viện kiểm sát có thể điều chỉnh hình phạt đề xuất. Nếu Tòa án xét thấy hình phạt đề xuất sau khi điều chỉnh là phù hợp thì được thông qua. Ngược lại, trong trường hợp Viện kiểm sát không điều chỉnh hoặc sau khi điều chỉnh vẫn không phù hợp thì Tòa án ra phán quyết theo quy định của pháp luật[19]. Tòa án phải giải thích lý do và đưa ra căn cứ không chấp nhận hình phạt được đề xuất bởi Viện kiểm sát.
Giai đoạn xét xử phúc thẩm: Trong các vụ án hình sự được xét xử ở cấp sơ thẩm bằng thủ tục xét xử nhanh, quyền kháng cáo của bị cáo, quyền kháng nghị của Viện kiểm sát vẫn được bảo đảm. Tuy nhiên, cần lưu ý xét xử nhanh là một cơ chế đặc biệt chỉ được áp dụng đối với giai đoạn xét xử sơ thẩm. Điều này có nghĩa việc xét xử phúc thẩm đối với vụ án trước đó đã được áp dụng thủ tục xét xử nhanh ở giai đoạn sơ thẩm sẽ được tiến hành theo thủ tục thông thường.
Để tránh tình trạng vụ án được đẩy nhanh ở cấp sơ thẩm nhưng lại bị kéo dài ở cấp phúc thẩm, pháp luật Trung Quốc quy định khi có kháng cáo đối với bản án sơ thẩm được tuyên theo thủ tục xét xử nhanh, việc phúc thẩm vụ án có thể được tiến hành mà không cần mở phiên tòa[20]. Theo đó, nếu bị cáo kháng cáo vì lý do tình tiết chưa rõ ràng hoặc chứng cứ không đầy đủ, Tòa án sẽ ra phán quyết hủy bỏ bản án sơ thẩm và trả vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục thông thường và bị cáo không được khoan hồng như trong trường hợp nhận tội và chấp nhận hình phạt. Trường hợp bị cáo kháng cáo vì lý do hình phạt không phù hợp và Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy bản án sơ thẩm là phù hợp thì sẽ ra phán quyết bác bỏ kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm; nếu bản án sơ thẩm không phù hợp, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ sửa bản án theo quy định pháp luật[21]. Khác với kháng cáo, trường hợp bản án sơ thẩm theo thủ tục xét xử nhanh bị Viện kiểm sát kháng nghị, phiên tòa phúc thẩm sẽ được mở theo luật định.
1.3. Một số thách thức đối với việc áp dụng thủ tục xét xử nhanh tại Trung Quốc
Mặc dù thủ tục xét xử nhanh tại Trung Quốc đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án và giảm tải cho hệ thống tư pháp hình sự, quá trình áp dụng trên thực tế vẫn bộc lộ một số hạn chế nhất định làm ảnh hưởng đến hiệu quả vận hành của cơ chế này. Theo đánh giá, tỉ lệ áp dụng thủ tục xét xử nhanh trên thực tế vẫn còn ở mức thấp. Theo đó, số lượng các vụ án xét xử nhanh chỉ chiếm khoảng 30% tổng số vụ án hình sự, con số này không chỉ thấp hơn thủ tục rút gọn mà còn mất cân bằng so với tỉ lệ các vụ án về các tội nhẹ - vốn chiếm hơn 80% tổng số vụ án hình sự[22].
Nguyên nhân đầu tiên là việc giải quyết vụ án trong thời hạn rất ngắn khiến cho các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Tòa án và Viện kiểm sát phải chịu áp lực lớn về thời gian xử lý hồ sơ. Thực tế cho thấy, mặc dù việc nghi phạm nhận tội và chấp nhận hình phạt khiến hoạt động thu thập chứng cứ và chứng minh của Viện kiểm sát được thuận tiện hơn, nhưng cũng làm phát sinh thêm nhiều công việc khác, chẳng hạn sắp xếp thời gian với trại tạm giam và Luật sư để thực hiện thủ tục ký tuyên thệ nhận tội của nghi phạm, xem xét ý kiến của bị hại liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại để làm cơ sở giải quyết vụ án... Tình trạng này cũng xảy ra tương tự ở giai đoạn xét xử của Tòa án. Có thể nói, thủ tục xét xử nhanh chỉ dựa vào việc rút gọn thời hạn tố tụng để đẩy nhanh việc giải quyết vụ án, còn khối lượng công việc là không đổi[23]. Do đó, nếu không có sự thúc đẩy của các yếu tố bên ngoài, các Kiểm sát viên trên thực tế thường không thực sự chủ động trong việc áp dụng thủ tục xét xử nhanh đối với các vụ án hình sự[24].
Mặt khác, không chỉ các cơ quan tố tụng mà ngay cả nhiều nghi phạm cũng không sẵn sàng lựa chọn thủ tục xét xử nhanh. Trong thủ tục xét xử nhanh, lợi ích đối với nghi phạm, bị cáo tập trung vào việc rút ngắn thời hạn tố tụng, nhưng họ lại mất các quyền tố tụng, cũng như khả năng giảm nhẹ hình phạt so với bản tuyên thệ nhận tội. Ngược lại, nếu áp dụng thủ tục thông thường hoặc thủ tục rút gọn, tuy không được hưởng một số khoan hồng nhưng các quyền tố tụng của nghi phạm, bao gồm quyền bào chữa được bảo đảm đầy đủ hơn. Hơn nữa, theo Ý kiến hướng dẫn năm 2019, ngay cả khi việc nghi phạm không đồng ý áp dụng thủ tục xét xử nhanh, chỉ cần họ tự nguyện, trung thực nhận tội, nhận phạt thì đều có thể được hưởng khoan hồng. Do đó, đối với những nghi phạm không cần phải nhanh chóng thoát khỏi quá trình tố tụng, việc lựa chọn thủ tục rút gọn hoặc thông thường sẽ tốt hơn[25].
Bên cạnh đó, có nhiều ý kiến cho rằng do thủ tục này gắn liền với cơ chế nhận tội, nhận hình phạt để được hưởng khoan hồng nên trên thực tế đã xuất hiện những lo ngại về khả năng bị cáo nhận tội chủ yếu nhằm được hưởng lợi ích về hình phạt hoặc để nhanh chóng kết thúc vụ án, thay vì hoàn toàn xuất phát từ sự tự nguyện thực chất. Trong khi đó, thủ tục tố tụng được đẩy nhanh cũng như việc xét xử được tối giản hóa khiến việc xác minh các tình tiết của tội phạm cũng như sự tự nguyện trong việc nhận tội, nhận phạt của nghi phạm, bị cáo trở nên khó khăn hơn, dẫn đến xác suất xảy ra các sai lầm trong hoạt động tố tụng của người có thẩm quyền cao hơn so với thủ tục rút gọn và thông thường[26].
2. Một số gợi mở cho Việt Nam về thủ tục xét xử nhanh
Từ mô hình lý thuyết và thực tiễn vận hành thủ tục xét xử nhanh trong pháp luật tố tụng hình sự Trung Quốc, nhóm tác giả đề xuất một số nội dung nghiên cứu, nhằm sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015 như sau:
Thứ nhất, về phương pháp luận tiếp cận và tiếp biến pháp luật: Cần nghiên cứu cẩn trọng, đánh giá toàn diện các điều kiện ràng buộc pháp lý để có những điều chỉnh thật sự phù hợp khi áp dụng thủ tục xét xử nhanh. Việc tiếp thu có chọn lọc này sẽ bảo đảm tính tương thích giữa chế định mới và nền tảng pháp lý hiện hành.
Thứ hai, giải pháp phòng ngừa rủi ro lập pháp: Cơ sở thực tiễn của thủ tục xét xử nhanh đã được chứng minh, kiểm nghiệm qua thực tế áp dụng rộng rãi với hiệu quả cao tại Trung Quốc. Vấn đề quan trọng là cần nhận diện khó khăn, hạn chế và vướng mắc phát sinh trong thực tiễn tư pháp nước bạn. Trên cơ sở đó, cần xây dựng các giải pháp đồng bộ về lập pháp cũng như các cơ chế hướng dẫn thi hành để khắc phục triệt để các rào cản này; bảo đảm hiệu quả, tính đồng thuận và độ an toàn pháp lý cao ngay khi triển khai áp dụng chính thức.
Thứ ba, định vị thủ tục xét xử nhanh trong hệ thống thủ tục tố tụng hình sự: Không thể xây dựng thủ tục xét xử nhanh như một quy trình tách biệt, mà phải đặt nó trong mối quan hệ biện chứng, tổng thể với thủ tục chung, thủ tục rút gọn hiện hành và các chế định tố tụng tiến bộ mới đang được nghiên cứu bổ sung (như tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không truy cứu trách nhiệm hình sự có điều kiện). Việc đặt trong hệ quy chiếu đồng bộ sẽ giúp phân hóa một cách khoa học, định hình ranh giới pháp lý về điều kiện áp dụng, thẩm quyền của các cơ quan, cũng như xác định chính xác thời điểm và cách thức vận hành linh hoạt của từng loại thủ tục, tránh tình trạng chồng chéo của nhau.
Trong hệ quy chiếu đồng bộ đó, việc phân định rõ ranh giới pháp lý giữa thủ tục rút gọn và thủ tục xét xử nhanh là yêu cầu cốt lõi nhằm tối ưu hóa hiệu năng phân loại thủ tục tố tụng. Về phạm vi áp dụng, thủ tục rút gọn có phạm vi rộng hơn khi được vận hành xuyên suốt toàn bộ các giai đoạn từ điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đến xét xử phúc thẩm. Ngược lại, thủ tục xét xử nhanh có tính chất khu biệt rõ rệt, chủ yếu tập trung kích hoạt và vận hành hiệu quả ở giai đoạn truy tố và xét xử sơ thẩm - thời điểm mà hệ thống chứng cứ buộc tội đã rõ ràng và đầy đủ. Việc áp dụng thủ tục rút gọn (khi vụ án thỏa mãn đầy đủ các điều kiện luật định) là trách nhiệm pháp lý bắt buộc của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trong khi đó, thủ tục xét xử nhanh phụ thuộc vào ý chí tự nguyện của bị can, bị cáo thông qua cơ chế nhận tội, chấp nhận hình phạt đề xuất để được hưởng khoan hồng. Sự phân hóa có tính biện chứng này bảo đảm hai chế định không chồng chéo nhau, mà bổ trợ lẫn nhau để tạo nên một hệ thống thủ tục tố tụng hình sự linh hoạt, đa tầng và toàn diện.
Thứ tư, xây dựng điều kiện áp dụng thủ tục xét xử nhanh chặt chẽ, hợp lý[27]: Khi xây dựng các điều kiện áp dụng thủ tục xét xử nhanh, Việt Nam cần chuẩn hóa các nhóm tiêu chí cốt lõi, bao gồm:
- Về loại tội phạm: Tham khảo quy định của Trung Quốc khi giới hạn thủ tục xét xử nhanh cho loại tội phạm có mức hình phạt từ 03 năm tù trở xuống. Điều kiện này có sự tương thích với định nghĩa về tội phạm ít nghiêm trọng theo điểm a khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự hiện hành của Việt Nam. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu quy định các trường hợp loại trừ như: Bị can, bị cáo là người chưa thành niên (do đã có thủ tục xử lý chuyển hướng); vụ án có đồng phạm nhưng có bị can, bị cáo không đồng ý áp dụng thủ tục xét xử nhanh; các trường hợp khác (tham khảo pháp luật Trung Quốc).
- Về tính chất của vụ án và chứng cứ: Vụ án đơn giản, chứng cứ đầy đủ, rõ ràng. Tiêu chí này đòi hỏi hồ sơ vụ án phải đạt đến độ hoàn chỉnh, trong đó các vấn đề phải chứng minh đã được làm rõ. Việc đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt này không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn lực tư pháp, rút ngắn thời gian giải quyết các vụ án ít phức tạp, mà còn là giải pháp cốt lõi để bảo đảm tính đúng đắn cho phán quyết của Tòa án.
- Về thái độ, ý chí của bị can, bị cáo: Họ phải có thái độ thành khẩn, tự nguyện nhận tội và nhận hình phạt đề xuất và có cam kết bằng văn bản rõ ràng. Ngoài ra, đối với các vụ án có phát sinh quan hệ dân sự, bị can, bị cáo phải chủ động khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại và đạt được sự đồng thuận với phía bị hại. Quy định này không chỉ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị hại mà còn bảo đảm nguyên tắc giải quyết triệt để, toàn diện vụ án hình sự. Cuối cùng, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải tự nguyện cam kết không khiếu nại, không kháng cáo (trừ trường hợp phán quyết về hình phạt của Tòa án không đúng với mức hình phạt đã thỏa thuận trước đó). Điều kiện ràng buộc này đóng vai trò quyết định trong việc giải quyết dứt điểm vụ án ngay ở cấp sơ thẩm, ngăn ngừa tình trạng kéo dài quá trình tố tụng và bảo toàn trọn vẹn giá trị cốt lõi của thủ tục xét xử nhanh.
- Về quyền được thông báo, giải thích về thủ tục xét xử nhanh: Để bảo đảm tính tự nguyện, bị can, bị cáo phải được các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo, giải thích một cách đầy đủ và rõ ràng về bản chất, thủ tục cũng như các hệ quả pháp lý khi áp dụng thủ tục xét xử nhanh. Việc minh bạch hóa các thông tin này không chỉ là cơ sở để họ đưa ra lựa chọn lý trí, bảo đảm quyền tự quyết của người bị buộc tội, mà còn ngăn ngừa tình trạng lạm dụng thủ tục, ép buộc nhận tội hoặc gây tổn hại đến quyền con người trong tư pháp hình sự.
- Về sự có mặt của người bào chữa: Để ngăn ngừa nguy cơ nhận tội và nhận hình phạt vì nhiều lý do khác nhau, bao gồm nhận thức pháp luật hạn chế của người bị buộc tội, cần quy định về sự có mặt bắt buộc của người bào chữa khi xem xét ý chí của bị can, bị cáo về việc áp dụng thủ tục xét xử nhanh. Người bào chữa sẽ đóng vai trò hỗ trợ, bảo đảm tính tự nguyện và tính trung thực trong việc thể hiện ý chí của bị can, bị cáo.
Thứ năm, thời điểm và phạm vi kích hoạt thủ tục xét xử nhanh trong quá trình tố tụng hình sự[28]: Về nguyên tắc, thủ tục xét xử nhanh cần được kích hoạt càng sớm càng tốt nhằm tối ưu hóa thời gian và chi phí. Tuy nhiên, để bảo đảm tính thận trọng, không làm ảnh hưởng đến việc thu thập chứng cứ và tính toàn diện của việc xác định sự thật khách quan của vụ án, việc lựa chọn thời điểm áp dụng cần được tính toán kỹ lưỡng. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, thời điểm thích hợp nhất để chính thức đề xuất việc áp dụng thủ tục này với Tòa án là trong giai đoạn truy tố. Bởi lẽ, chỉ khi đến giai đoạn này, hồ sơ điều tra mới được hoàn tất, các cơ quan tiến hành tố tụng mới có đầy đủ căn cứ vững chắc để khẳng định vụ án đáp ứng các điều kiện để áp dụng thủ tục xét xử nhanh.
Thứ sáu, thủ tục phiên tòa xét xử nhanh: Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa, có thể tham khảo việc tinh giản hóa mô hình xét xử của Trung Quốc. Theo đó, phiên tòa xét xử nhanh nên được thực hiện bởi một Thẩm phán và lược bỏ hoàn toàn các thủ tục xét hỏi, tranh luận. Bản chất của phiên tòa là kiểm tra tính hợp pháp của toàn bộ quá trình lập hồ sơ, thẩm định sự tự nguyện, nhận thức của bị cáo đối với văn bản cam kết nhận tội và xem xét tính hợp lý của mức hình phạt đề xuất từ Viện kiểm sát. Sự tinh gọn này không chỉ tiết kiệm chi phí tư pháp và rút ngắn tối đa thời gian mở phiên tòa, mà còn bảo đảm quyền tự quyết của bị cáo đã được tôn trọng xuyên suốt quá trình tố tụng.
Một trong những nội dung đáng lưu ý khi xây dựng thủ tục xét xử nhanh là việc tinh giản cấu trúc phiên tòa có thể làm giảm các quyền tố tụng cơ bản của bị cáo như quyền bào chữa hay quyền tranh tụng trực tiếp. Tuy nhiên, có thể thấy, bản chất của thủ tục xét xử nhanh dựa trên nền tảng bị cáo đã đồng ý với việc áp dụng thủ tục này. Điều này đồng nghĩa với việc bị cáo đã chủ động đưa ra lựa chọn lý trí: Chấp nhận từ bỏ một số quyền tố tụng mang tính chất đối kháng (như tranh luận tại phiên tòa) để đổi lấy một quy trình xét xử nhanh chóng, đơn giản, giảm thiểu áp lực tâm lý căng thẳng kéo dài và quan trọng nhất là nhận được sự khoan hồng đáng kể, mang lại lợi ích trực tiếp trong việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Thứ bảy, cơ chế phối hợp, chế ước quyền lực và thẩm quyền đề xuất áp dụng[29]: Nhằm kiểm soát quyền lực, phòng chống tình trạng lạm quyền, tiêu cực hoặc thỏa thuận bất hợp pháp trong quá trình đơn giản hóa thủ tục tố tụng, việc thiết kế mô hình xét xử nhanh phải dựa trên nền tảng của luật tố tụng hình sự Việt Nam là phối hợp và chế ước. Cơ chế này phải hoàn toàn tương thích với tổ chức bộ máy, chức năng và nhiệm vụ hiến định của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Do chức năng buộc tội thuộc về chủ thể chính là Viện kiểm sát, nên Viện kiểm sát phải là cơ quan có thẩm quyền quyết định đề xuất việc áp dụng thủ tục xét xử nhanh với Tòa án. Việc đề xuất này được thực hiện trên cơ sở tiếp nhận đề nghị từ cơ quan có thẩm quyền điều tra, từ nguyện vọng của bị can hoặc do Viện kiểm sát nhận thấy vụ án đã có đủ các điều kiện luật định. Sau đó, trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát tiếp tục thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, giám sát chặt chẽ quá trình xem xét, ra phán quyết của Tòa án để bảo đảm tính tối thượng của pháp luật được tuân thủ một cách triệt để.
Lê Huỳnh Tấn Duy - Vũ Thị Quyên
-------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Chu Chí Di (2021), “刑事速裁程序上诉机制研究” (Tạm dịch: “Nghiên cứu về cơ chế kháng cáo của thủ tục xét xử nhanh vụ án hình sự”), Tạp chí Học viện Cảnh sát Giang Tây, số 4.
2. Đường Nghi Lượng (2024), “刑事速裁程序的分层建构”(Tạm dịch: “Cấu trúc phân cấp của thủ tục xét xử nhanh vụ án hình sự”), Tạp chí Diễn đàn chính trị và pháp lý, số 6.
3. Ngô Cường (2025), “我国刑事速裁程序之重构-以轻刑案件治理为视角”(Tạm dịch: “Tái cấu trúc thủ tục xét xử nhanh trong tố tụng hình sự Trung Quốc - tiếp cận từ góc độ quản trị các vụ án hình sự nhẹ”), Tạp chí Bình luận pháp luật hình sự, số 50.
4. Vương Anh Long (2025), “一场未竟的改革:轻微犯罪案件快速办理机制再考察”, (Tạm dịch: “Một cuộc cải cách dang dở: Tái khảo sát cơ chế xử lý nhanh các vụ án tội phạm nhẹ”), Tạp chí Luật hình sự Trung Quốc, số 5.
5. Hồ Lương Lượng, “刑事速裁程序适用率低的原因分析”(Tạm dịch: “Phân tích nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ áp dụng thủ tục xét xử nhanh các vụ án hình sự thấp”), Tin tức pháp lý Giang Tô, đăng ngày 20/10/2020, https://jsfzb.xhby.net/pc/con/202011/06/content_847103.html.
6. Tòa án nhân dân cấp cao tỉnh Sơn Đông, “刑事速裁,让正义来得更及时” (Tạm dịch: “Xét xử nhanh vụ án hình sự mang lại công lý kịp thời hơn”), đăng ngày 14/3/2016, https://www.sdcourt.gov.cn/qdjmfy/399674/399675/1301870/index.html?utm.
7. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, “最高检下发4起认罪认罚案件适用速裁程序典型案例” (Tạm dịch: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành 04 vụ án điển hình áp dụng thủ tục xét xử nhanh trong các vụ án nhận tội nhận phạt”), đăng ngày 13/10/2020, https://www.spp.gov.cn/spp/xwfbh/wsfbt/202010/t20201013_481664.shtml#1.
8. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, “刑事案件速裁程序试点工作:深化试点工作 总结试点经验” (Tạm dịch: “Công tác thí điểm thủ tục xét xử nhanh đối với các vụ án hình sự: tăng cường công tác thí điểm và tổng kết kinh nghiệm thí điểm”), đăng ngày 09/02/2017, https://www.spp.gov.cn/ztk/2017/tsjc/gaige/201703/t20170306_183645.shtml.
9. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2026), Báo cáo đề dẫn một số nội dung sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự.
[1] Mục I Các biện pháp thí điểm năm 2014.
[2] Viện kiểm sát nhân dân tối cao, “刑事案件速裁程序试点工作: 深化试点工作 总结试点经验”(Tạm dịch: “Công tác thí điểm thủ tục xét xử nhanh đối với các vụ án hình sự: Tăng cường công tác thí điểm và tổng kết kinh nghiệm thí điểm”), đăng ngày 09/2/2017, https://www.spp.gov.cn/ztk/2017/tsjc/gaige/201703/t20170306_183645.shtml, truy cập ngày 10/5/2026.
[3] Báo cáo tạm thời của TAND tối cao, VKSND tối cao về việc thí điểm thủ tục xét xử nhanh đối với các vụ án hình sự, ngày 15/10/2015, http://www.npc.gov.cn/npc/c2/c12435/c12491/201905/t20190521_221894.html, truy cập ngày 10/5/2026.
[4] Điều 16 Các biện pháp triển khai chương trình thí điểm áp dụng hình phạt nhẹ đối với những người nhận tội, nhận hình phạt trong các vụ án hình sự ở một số khu vực, do TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Công an và các cơ quan khác phối hợp ban hành ngày 11/11/2016.
[5] . Chu Chí Di (2021), “刑事速裁程序上诉机制研究”(Tạm dịch: “Nghiên cứu về cơ chế kháng cáo của thủ tục xét xử nhanh vụ án hình sự”), Tạp chí Học viện Cảnh sát Giang Tây, số 04, tr. 115.
[6] Điều 3 Ý kiến hướng dẫn năm 2019.
[7] Điều 6 Ý kiến hướng dẫn năm 2019.
[8] Điều 7 Ý kiến hướng dẫn năm 2019.
[9] Điều 7 Ý kiến hướng dẫn năm 2019.
[10] Điều 440 Quy tắc của Viện kiểm sát năm 2019.
[11] Điều 273 Quy tắc của Viện kiểm sát năm 2019.
[12] Điều 176 Luật TTHS năm 2018.
[13] Điều 36 Luật TTHS năm 2018.
[14] Điều 174 Luật TTHS năm 2018.
[15] Điều 183 Luật TTHS năm 2018.
[16] Điều 224 Luật TTHS năm 2018.
[17] Theo Điều 356 Giải thích của Tòa án năm 2021.
[18] Điều 201 Luật TTHS năm 2018.
[19] Điều 41 Ý kiến hướng dẫn năm 2019.
[20] Điều 234 Luật TTHS năm 2018.
[21] Điều 45 Ý kiến hướng dẫn năm 2018.
[22] Vương Anh Long (2025), “一场未竟的改革:轻微犯罪案件快速办理机制再考察”, (Tạm dịch: “Một cuộc cải cách dang dở: Tái khảo sát cơ chế xử lý nhanh các vụ án tội phạm nhẹ”), Tạp chí Luật Hình sự Trung Quốc, số 05, tr. 131.
[23] Vương Anh Long, tlđd.
[24] Viện kiểm sát nhân dân tối cao, “最高检下发4起认罪认罚案件适用速裁程序典型案例” (Tạm dịch: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành 04 vụ án điển hình áp dụng thủ tục xét xử nhanh trong các vụ án nhận tội nhận phạt”), ngày 13/10/2020, https://www.spp.gov.cn/spp/xwfbh/wsfbt/202010/t20201013_481664.shtml#1, truy cập ngày 14/5/2026.
[25] Ngô Cường, tlđd.
[26] Ngô Cường, tlđd.
[27] Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2026), Báo cáo đề dẫn một số nội dung sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự, tr.1.
[28] Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2026), tlđd, tr.1.
[29] Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2026), tlđd, tr. 2.
Bài viết chưa có bình luận nào.