Đặt cọc là một biện pháp bảo đảm phổ biến, được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch dân sự và thương mại, nhất là trong các hợp đồng mua bán, chuyển nhượng bất động sản và hợp đồng có giá trị lớn. Khi quyền yêu cầu phát sinh từ hợp đồng có kèm theo đặt cọc được chuyển giao cho chủ thể khác, vấn đề pháp lý đặt ra không chỉ dừng lại ở việc xác định chủ thể có quyền mới, mà còn liên quan trực tiếp đến khả năng chuyển dịch của quyền yêu cầu đối với tài sản đặt cọc, cũng như mối quan hệ giữa quyền yêu cầu được chuyển giao và biện pháp đặt cọc vốn được xác lập nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ ban đầu. Việc xác định quyền xử lý, hưởng lợi hoặc yêu cầu hoàn trả tài sản đặt cọc có tự động chuyển sang bên nhận chuyển giao hay không có ý nghĩa quyết định đối với giá trị pháp lý, mức độ an toàn và hiệu lực đối kháng của giao dịch chuyển giao quyền yêu cầu. Theo Điều 368 Bộ luật Dân sự (BLDS)
năm 2015, trường hợp quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm thì việc chuyển giao quyền yêu cầu bao gồm cả biện pháp bảo đảm đó. Tuy nhiên, quy định này mang tính khái quát, chưa làm rõ đặc thù pháp lý của từng loại biện pháp bảo đảm, đặc biệt là đặt cọc, một biện pháp vừa mang tính bảo đảm, vừa gắn chặt với quan hệ hợp đồng cụ thể và ý chí của các bên. Việc thiếu các tiêu chí phân biệt rõ ràng về phạm vi và điều kiện chuyển giao quyền yêu cầu đối với đặt cọc đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tiễn áp dụng pháp luật, cũng như trong hoạt động giải quyết tranh chấp của Tòa án.
Thông qua việc bình luận một vụ việc cụ thể sau đây, tác giả chỉ ra những bất cập trong quy định của BLDS hiện hành, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về chuyển giao quyền yêu cầu có kèm theo biện pháp đặt cọc, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu bảo vệ quyền lợi của các bên và sự an toàn pháp lý của giao dịch dân sự - thương mại.
1. Nội dung tình huống:
Nguyên đơn Công ty H kiện Công ty N bán cho Công ty H cổ phần thuộc sở hữu của Tổng Công ty S. Cụ thể, ngày 20/02/2008, Công ty N ký thỏa thuận bán 39.192 cổ phiếu thuộc phần vốn Nhà nước do Tổng Công ty S quản lý cho Công ty H với giá 3,919 tỉ đồng. Ngày 22/02/2008, Công ty H chuyển 01 tỉ đồng vào tài khoản của Công ty N tại Ngân hàng B - Chi nhánh K để đặt cọc bảo đảm việc ký kết và thực hiện chuyển nhượng cổ phần. Do giao dịch mua bán không thành, Công ty N cam kết hoàn trả tiền đặt cọc và lãi cho Công ty H. Tuy nhiên, Ngân hàng B - Chi nhánh K đã tự động trích số tiền 01 tỉ đồng đặt cọc này để cấn trừ nợ vay của Công ty N với ngân hàng. Sau đó, Công ty N sáp nhập vào Công ty S. Công ty H khởi kiện, yêu cầu Công ty S hoặc ngân hàng phải hoàn trả cho Công ty H 01 tỉ đồng vì hợp đồng mua bán cổ phần giữa hai công ty đã không thực hiện được.
Về vấn đề biện pháp đặt cọc trong hợp đồng chuyển nhượng nêu trên có được chuyển giao theo hay không, hiện có hai ý kiến như sau:
- Ý kiến thứ nhất cho rằng, Công ty N nhận 01 tỉ đồng tiền đặt cọc từ Công ty H, nhưng hai bên chưa hoàn tất việc mua bán cổ phần và thực tế nghĩa vụ giao cổ phần chưa phát sinh. Khi Công ty N chuyển nhượng hợp đồng cho Công ty S, nếu không có thỏa thuận riêng về việc chuyển cả khoản đặt cọc, thì Công ty S chỉ tiếp nhận nghĩa vụ giao cổ phần, không tiếp nhận tài sản bảo đảm (khoản tiền đặt cọc). Theo đó, khoản tiền đặt cọc vẫn thuộc quan hệ giữa Công ty H và Công ty N không tự động chuyển sang Công ty S.
Như vậy, việc chuyển giao quyền yêu cầu thanh toán không đương nhiên bao gồm biện pháp đặt cọc. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về việc khấu trừ tiền đặt cọc vào nghĩa vụ thanh toán, thì tài sản đặt cọc phải được hoàn trả cho bên đặt cọc khi hợp đồng chính không được giao kết hoặc thực hiện. Do giữa Công ty H và Công ty N không có thỏa thuận cụ thể về việc xử lý khoản tiền đặt cọc theo hướng khấu trừ, nên theo quan điểm này, Công ty N có nghĩa vụ hoàn trả số tiền đặt cọc 01 tỉ đồng cho Công ty H. Đồng thời, hợp đồng mua bán khoản nợ giữa Ngân hàng B - Chi nhánh K và Công ty S sẽ không bao gồm khoản tiền đặt cọc. Bởi lẽ khoản tiền này có nguồn gốc từ việc Công ty H chuyển tiền vào tài khoản của Công ty N mở tại Ngân hàng B - Chi nhánhK nhằm mục đích bảo đảm cho hợp đồng mua bán cổ phần giữa hai công ty. Ngân hàng chỉ chuyển nhượng khoản nợ vay tín dụng của Công ty N cho Công ty S, trong khi hợp đồng mua bán nợ không thể hiện nội dung chuyển giao quyền đối với khoản tiền đặt cọc. Mặt khác, giữa Công ty S và Công ty N cũng không tồn tại thỏa thuận nào về việc chuyển giao khoản tiền đặt cọc 01 tỉ. Theo cách hiểu đó, khoản tiền đặt cọc vẫn thuộc quyền sở hữu của Công ty H, do mục đích bảo đảm cho hợp đồng mua bán cổ phần đã không đạt được. Trên cơ sở này, ngân hàng phải hoàn trả cho Công ty H số tiền 01 tỉ đồng; đồng thời khẳng định nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu của bên đặt cọc và giới hạn quyền tự cấn trừ của ngân hàng đối với các khoản tiền chưa thuộc quyền sở hữu trọn vẹn của bên nhận cọc.
Ý kiến thứ hai cho rằng, cần xem xét hợp đồng mua bán khoản nợ giữa Công ty N và Công ty S có thoả thuận kèm theo biện pháp đặt cọc hay không? Theo Điều 365 BLDS năm 2015, việc chuyển giao quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm bao gồm cả biện pháp bảo đảm đó. Theo đó, Công ty N đã sáp nhập vào Công ty S và cũng theo quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 201 Luật doanh nghiệp năm 2020, sau khi công ty nhận sáp nhập đăng ký doanh nghiệp, công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại; công ty nhận sáp nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ, các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị sáp nhập. Các công ty nhận sáp nhập đương nhiên kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của các công ty bị sáp nhập theo hợp đồng sáp nhập. Mặt khác, theo quy định của BLDS năm 2015 thì “sau khi sáp nhập, pháp nhân được sáp nhập chấm dứt tồn tại; quyền và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được sáp nhập sẽ được chuyển giao cho pháp nhân sáp nhập”[1]. Đồng thời, Điều 368 BLDS năm 2015 quy định, trường hợp quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm thì việc chuyển giao quyền yêu cầu bao gồm cả biện pháp bảo đảm đó. Khi phân tích điều luật này, có quan điểm cho rằng “dù trong giao dịch chuyển giao quyền yêu cầu có đề cập hoặc không đề cập đến việc chuyển giao biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì vẫn phải xác định việc chuyển giao quyền yêu cầu đó bao gồm cả biện pháp bảo đảm”[2]. Với những quy định này thì chúng ta cũng có thể hiểu là từ thời điểm Công ty N sáp nhập vào Công ty S thì khoản tiền đặt cọc cũng sẽ được chuyển giao cho Công ty S.
Đặt cọc mặc dù là biện pháp được quy định tại Điều 328 BLDS năm 2015, nhưng cũng sẽ có những đặc điểm khác với biện pháp bảo đảm khác. Theo đó đặt cọc là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ về bản chất là tài sản do bên đặt cọc giao cho bên nhận cọc và bên nhận cọc đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hợp đồng; về mục đích, “việc đặt cọc có thể chỉ mang mục đích bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng và có thể mang mục đích bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng nhưng cũng có thể mang cả hai mục đích đó”[3]; ngoài ra đặt cọc còn có chức năng thanh toán. Mục đích đặt cọc phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các bên; về nguyên tắc, khi có thỏa thuận đặt cọc, bên đặt cọc phải giao tài sản đặt cọc cho bên nhận cọc, việc giao tài sản đặt cọc nhằm đảm bảo cho những mục đích trên. Bên nhận cọc không được sử dụng tài sản đặt cọc khi chưa nhận được sự đồng ý của bên đặt cọc[4]. Đồng thời khoản 2 Điều 328 BLDS năm 2015 quy định, hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Như vậy, về nguyên tắc nếu nghĩa vụ đã được thực hiện thì tài sản đặt cọc sẽ được hoàn trả hoặc khấu trừ thanh toán. Với quy định này có thể hiểu là quyền sở hữu tài sản đặt cọc vẫn thuộc về bên đặt cọc. Trong khoa học pháp lý cũng có quan điểm tương tự là “cho đến khi phải xử lý tài sản đặt cọc thì tài sản đặt cọc vẫn thuộc sở hữu của bên đặt cọc mặc dù đã được giao cho bên nhận cọc[5]. Như vậy, cho đến khi bên đặt cọc bị phạt cọc hay các bên dùng tiền cọc để thanh toán thì tài sản đặt cọc vẫn thuộc về bên đặt cọc.
Tuy nhiên, quy định tại Điều 368 BLDS năm 2015 có thể hiểu, khi quyền yêu cầu có biện pháp bảo đảm được chuyển giao thì biện pháp bảo đảm đương nhiên được chuyển giao theo mà không cần sự thỏa thuận giữa các bên[6]. Có quan điểm cho rằng, luật quy định khi chuyển giao quyền yêu cầu mà có biện pháp bảo đảm thì biện pháp bảo đảm sẽ được giữ nguyên mà không cần có sự thỏa thuận giữa các bên[7]. Với quan điểm này, khi quyền yêu cầu được chuyển giao cho người thế quyền thì biện pháp bảo đảm cũng được chuyển giao theo.
2. Một số bất cập trong quy định của pháp luật
Thứ nhất, đối với chuyển giao quyền yêu cầu có biện pháp bảo đảm là đặt cọc, BLDS năm 2015 chưa quy định cụ thể cần có thỏa thuận rõ giữa bên chuyển giao quyền và bên thế quyền cũng như các bên có liên quan về việc khoản tiền đặt cọc có được chuyển giao hay không?
Bộ luật Dân sự năm 2015 thiếu tiêu chí xác định “quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ là quyền gì? Đối tượng quyền yêu cầu bao gồm những loại quyền gì? Trong khi trên thực tế, quyền yêu cầu có thể là quyền đòi nợ, quyền yêu cầu giao hàng, quyền yêu cầu bồi thường, quyền yêu cầu thanh toán và các quyền yêu cầu này thường không tồn tại độc lập, mà gắn với các quyền phụ hoặc biện pháp bảo đảm như đặt cọc. Điều này này dẫn đến hướng giải quyết và quan điểm khác nhau như đã phân tích.
Như trong vụ việc trên, đối với quan điểm thứ nhất về yêu cầu hoàn trả tiền đặt cọc sau khi hợp đồng mua bán cổ phần bị hủy, Tòa án buộc Ngân hàng hoàn trả tiền đặt cọc cho bên đặt cọc, vì cho rằng khoản tiền này chưa thuộc quyền sở hữu của bên nhận chuyển giao là Công ty S. Tuy nhiên, Tòa án chưa viện dẫn và lý giải quy định của Điều 368 BLDS năm 2015 có được áp dụng cho trường hợp này hay không? Trong khi đó, theo quy định này thì biện pháp bảo đảm phải chuyển giao theo. Đồng thời, đối với khoản tiền đặt cọc, Tòa cho rằng không thể chuyển giao mà phải hoàn trả, nhưng Tòa án chưa nêu được lý do vì sao không được chuyển giao? Về nội dung này, nghiên cứu pháp luật nước ngoài, tác giả nhận thấy trong Bộ luật Dân sự Đức có quy định một số biện phải bảo đảm liên quan đến quyền chính có thể chuyển giao theo quyền yêu cầu, tuy nhiên biện pháp bảo đảm như đặt cọc không được liệt kê mà phụ thuộc vào bản chất của mối quan hệ chuyển giao, cụ thể Điều 401 BLDS Đức (sửa đổi năm 2022) quy định: Khi quyền yêu cầu được chuyển giao, các quyền thế chấp, thế chấp tàu biển hoặc các quyền bảo đảm gắn liền với quyền yêu cầu đó, cũng như các quyền phát sinh từ bảo lãnh được thiết lập để bảo đảm cho quyền yêu cầu, sẽ được chuyển sang cho chủ thể có quyền mới.
Thứ hai, BLDS năm 2015 chưa quy định trường hợp chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền yêu cầu thì biện pháp bảo đảm sẽ được chuyển giao như thế nào? Trong khi đó, pháp luật nước ngoài đã ghi nhận nguyên tắc này, cụ thể Điều 9.1.14 của Bộ Nguyên tắc Unidroit về Hợp đồng Thương mại quốc tế năm 2016 (viết tắt là PICC) quy định: (1) Quyền yêu cầu thanh toán một khoản tiền có thể được chuyển giao một phần; (2) Quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ khác chỉ có thể được chuyển giao một phần nếu nó có thể phân chia và việc chuyển giao không làm gia tăng nghĩa vụ đáng kể cho bên có nghĩa vụ. Bên cạnh đó, Bộ Nguyên tắc Luật hợp đồng Châu Âu (PECL) cũng quy định trường hợp chuyển giao một phần quyền yêu cầu nếu quyền yêu cầu có thể phân chia được, ví dụ quyền yêu cầu liên quan đến nghĩa vụ trả tiền. Tuy nhiên, bên chuyển giao phải chịu trách nhiệm đối với bên có nghĩa vụ về mọi chi phí phát sinh thêm mà bên có nghĩa vụ phải gánh chịu do việc chuyển giao này[8]. Mặt khác, trong thông luật Anh thì việc chuyển giao từng phần có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ nên pháp luật cũng quy định điều kiện cụ thể như phần quyền được chuyển giao phải được xác định đầy đủ và rõ ràng, bên có nghĩa vụ thanh toán riêng rẽ đối với phần quyền yêu cầu đã được chuyển giao và việc chuyển giao từng phần phải đáp ứng điều kiện là quyền yêu cầu chưa chuyển giao hoàn toàn về mặt pháp lý, việc chuyển giao này được Tòa án công nhận rằng, bên nhận chuyển giao có quyền lợi công bằng đối với khoản nợ hoặc quyền yêu cầu đó, điều này đồng nghĩa với việc là ở Anh “chuyển giao quyền yêu cầu một phần cũng có thể được coi là có hiệu lực, nhưng chỉ được chấp nhận nếu phù hợp với lẽ công bằng”[9]. Cách tiếp cận hẹp này của pháp luật Anh nhằm mở rộng quyền chuyển giao yêu cầu theo hướng vừa tạo sự lưu thông dễ dàng cho các chủ thể trong việc thực hiện quyền yêu cầu, vừa bảo vệ bên có nghĩa vụ, chủ thể phải trực tiếp thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền. Bởi lẽ khi quyền yêu cầu bị chuyển giao từng phần cho nhiều chủ thể khác nhau, bên có nghĩa vụ có thể phải đối mặt với các yêu cầu pháp lý mâu thuẫn, đặc biệt trong trường hợp một chủ thể muốn chấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng, trong khi chủ thể còn lại lại mong muốn tiếp tục duy trì hiệu lực của hợp đồng và như vậy sẽ đặt bên có nghĩa vụ vào tình thế bất lợi. Vì vậy, việc cho phép nhưng phải đáp ứng những điều kiện chuyển giao một phần quyền yêu cầu nhằm bảo đảm công bằng và an toàn pháp lý cho bên có nghĩa vụ. Đối với trường hợp chuyển giao một phần, cả PICC và PECL đều quy định: “Trường hợp quyền đòi nợ được chuyển giao một phần, quyền bảo đảm sẽ được chuyển giao theo tỉ lệ. Nếu quyền bảo đảm không thể chia nhỏ thì việc chuyển giao tùy thuộc vào quyết định của các bên”[10].
Tóm lại, việc quy định cho phép chuyển giao quyền yêu cầu từng phần làm tăng tính lưu thông của quyền tài sản, tạo điều kiện huy động vốn và phân tán rủi ro trong các giao dịch dân sự, thương mại. Quy định này đáp ứng nhu cầu của các quan hệ hợp đồng phức tạp và nâng cao hiệu quả khai thác giá trị kinh tế của quyền yêu cầu, với điều kiện có cơ chế bảo vệ phù hợp cho bên có nghĩa vụ nhằm bảo đảm sự ổn định của quan hệ hợp đồng.
Thứ ba, BLDS năm 2015 còn thiếu quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin và chuyển giao giấy tờ đối với các chủ thể có liên quan trong quan hệ chuyển giao quyền yêu cầu.
Theo Điều 365 và Điều 366 BLDS năm 2015, việc chuyển giao quyền yêu cầu phải được thông báo cho bên có nghĩa vụ, đồng thời người chuyển giao có nghĩa vụ cung cấp thông tin cần thiết và chuyển giao các giấy tờ liên quan cho bên nhận chuyển giao. Tuy nhiên, các quy định này chỉ tập trung vào mối quan hệ giữa bên chuyển giao, bên nhận chuyển giao và bên có nghĩa vụ, mà chưa tính đến các chủ thể có liên quan khác, đặc biệt là bên đang nắm giữ hoặc quản lý tài sản bảo đảm, như trường hợp ngân hàng giữ tiền đặt cọc. Trong thực tiễn, sự thiếu hụt này có thể dẫn đến những hệ quả pháp lý phức tạp. Chẳng hạn, trong trường hợp Công ty H chuyển giao quyền yêu cầu đối với khoản tiền đặt cọc cho Công ty N nhưng không thông báo cho ngân hàng, là bên đang nắm giữ khoản tiền đặt cọc thì ngân hàng với tư cách là chủ thể có liên quan chứ không phải bên có nghĩa vụ, có thể xử lý hoặc thu nợ từ khoản tiền đặt cọc mà không biết hoặc không được biết rằng quyền yêu cầu gắn với khoản tiền này đã được chuyển giao cho người thế quyền. Trong khi đó, BLDS năm 2015 chỉ quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin và chuyển giao giấy tờ giữa người chuyển giao và người nhận chuyển giao quyền yêu cầu, mà không đặt ra nghĩa vụ thông báo hoặc cung cấp thông tin đối với các chủ thể có liên quan khác. Khoảng trống pháp lý này làm gia tăng rủi ro xung đột quyền lợi và gây khó khăn cho việc xác định thứ tự ưu tiên cũng như trách nhiệm pháp lý của các bên trong các quan hệ có yếu tố bảo đảm.
3. Một số đề xuất, kiến nghị
Thứ nhất, đặt cọc là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, không phải là giao dịch chuyển quyền sở hữu ngay tại thời điểm giao tài sản. Trong thời gian nghĩa vụ chính chưa được xác lập hoặc chưa được thực hiện, tài sản đặt cọc chỉ được bên nhận cọc chiếm hữu, với mục đích bảo đảm, chứ chưa hình thành quyền sở hữu trọn vẹn. Do đó, bên nhận cọc không có quyền định đoạt đối với tài sản đặt cọc. Điều 328 BLDS năm 2015 chỉ xác định đặt cọc là biện pháp bảo đảm, không xác lập việc chuyển quyền sở hữu ngay. Điều 194 và Điều 195 BLDS năm 2015 khẳng định quyền định đoạt chỉ phát sinh khi chủ thể có quyền sở hữu hợp pháp. Đặt cọc có đặc thù là gắn chặt với ý chí và mục đích cụ thể của các bên tại thời điểm giao kết hợp đồng, do đó cần được phân biệt với các biện pháp bảo đảm khác. Bộ luật Dân sự năm 2015 cần bổ sung thêm quy định liên quan đến chuyển giao quyền yêu cầu có kèm theo biện pháp bảo đảm theo hướng đối với biện pháp đặt cọc, việc chuyển giao quyền yêu cầu chỉ bao gồm quyền, nghĩa vụ liên quan đến tài sản đặt cọc khi có thỏa thuận rõ ràng của các bên hoặc khi việc chuyển giao hợp đồng chính được thực hiện hợp pháp và có hiệu lực đối với bên đặt cọc.
Thứ hai, pháp luật dân sự Việt Nam cần bổ sung quy định rõ về việc chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền yêu cầu và biện pháp bảo đảm khi quyền yêu cầu được chuyển giao toàn bộ hay một phần. Cụ thể, BLDS năm 2015 nên ghi nhận nguyên tắc chung theo hướng: Khi quyền yêu cầu được chuyển giao thì các biện pháp bảo đảm gắn liền với quyền yêu cầu đó đương nhiên chuyển sang cho bên nhận chuyển giao, tương ứng với phạm vi quyền yêu cầu được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Đối với trường hợp chuyển giao một phần quyền yêu cầu, pháp luật cần làm rõ rằng biện pháp bảo đảm cũng được “chia tách” theo tỉ lệ hoặc giá trị của phần quyền yêu cầu được chuyển giao, với điều kiện việc chia tách này không làm gia tăng nghĩa vụ hoặc làm thay đổi theo hướng bất lợi một cách đáng kể việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Việc bổ sung quy định theo hướng trên sẽ góp phần nâng cao tính an toàn pháp lý cho giao dịch chuyển giao quyền yêu cầu, đồng thời tránh cách hiểu và áp dụng không thống nhất trong thực tiễn xét xử hiện nay.
Thứ ba, cần hoàn thiện các quy định của BLDS năm 2015 theo hướng mở rộng nghĩa vụ cung cấp thông tin và thông báo trong quan hệ chuyển giao quyền yêu cầu, không chỉ giới hạn ở bên có nghĩa vụ mà còn bao gồm các chủ thể có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện hoặc bảo đảm quyền yêu cầu. Theo đó, BLDS năm 2015 nên bổ sung quy định yêu cầu người chuyển giao quyền yêu cầu phải thông báo kịp thời cho bên đang nắm giữ, quản lý hoặc kiểm soát tài sản bảo đảm, đặc biệt trong các trường hợp tài sản bảo đảm do bên thứ ba giữ, như ngân hàng giữ tiền đặt cọc hoặc tài sản ký quỹ... Đồng thời, pháp luật cần làm rõ hệ quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ thông báo đối với các chủ thể có liên quan. Cụ thể, trong trường hợp bên chuyển giao không thông báo hoặc không cung cấp thông tin cần thiết, thì các giao dịch xử lý tài sản bảo đảm do chủ thể có liên quan thực hiện và không biết về việc chuyển giao vẫn được bảo vệ về mặt pháp lý; trách nhiệm phát sinh, nếu có, nên được phân bổ cho bên vi phạm nghĩa vụ thông báo. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm an toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch, vừa khuyến khích tính minh bạch và thiện chí trong việc chuyển giao quyền yêu cầu. Việc bổ sung các quy định theo hướng trên không chỉ khắc phục khoảng trống hiện hành của BLDS năm 2015, mà còn góp phần hạn chế xung đột quyền lợi giữa các chủ thể liên quan, đồng thời nâng cao hiệu quả vận hành của các giao dịch chuyển giao quyền yêu cầu trong bối cảnh gia tăng các quan hệ tài chính, thương mại có yếu tố bảo đảm.
Lê Thị Diễm Phương
[1] Khoản 2 Điều 89 BLDS năm 2015.
[2] Tưởng Duy Lượng, “Chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ dân sự”, Tạp chí Kiểm sát số 18 (tháng 8/2018).
[3] Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Tập II), Nxb. Tư Pháp, Hà Nội, tr.131.
[4] Điểm d khoản 2 Điều 38 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành BLDS năm 2015 về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
[5] Đỗ Văn Đại (2021), Luật các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (Sách chuyên khảo, xuất bản lần thứ 4), Nxb. Hồng Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.324.
[6] Nguyễn Văn Cừ & Nguyễn Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học BLDS năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr.365.
[7] Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2024), Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Công an nhân dân, tr.41.
[8] Điều 11:103 Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng (Principles of European Contract Law - PECL).
[9] Ansen, Nils & Zimmermann, Reinhard (2018), Commentaries on European Contract Laws, Oxford University Press, tr. 1659-1660.
[10] PICC 9.1.14 Comment 2. PECL 11:201, Comment C.
Bài viết chưa có bình luận nào.