Vướng mắc trong xử lý vật chứng và kiến nghị bổ sung Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

30/10/2026 14:10

(kiemsat.vn)
Việc xử lý vật chứng là tài sản chung của vợ chồng, tài sản bảo đảm, tài sản không xác định được chủ sở hữu và tài sản liên quan đến nhiều vụ án hình sự hiện còn chưa thống nhất. Bài viết nhận diện những vướng mắc này và kiến nghị bổ sung Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhằm bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan.

Xử lý vật chứng, tài sản bị tạm giữ không chỉ bảo đảm hiệu quả giải quyết vụ án hình sự mà còn liên quan trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp của tổ chức, cá nhân và quyền, lợi ích của người thứ ba. Tuy nhiên, đối với những trường hợp phức tạp như vật chứng là tài sản chung của vợ chồng, tài sản đang thế chấp, tài sản không xác định được chủ sở hữu hoặc liên quan đến nhiều vụ án, pháp luật hiện hành mới dừng ở quy định mang tính nguyên tắc, chưa có hướng dẫn cụ thể, dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT).

1. Một số vướng mắc trong thực tiễn

- Vật chứng là tài sản chung của vợ chồng:

Thực tiễn cho thấy, không ít trường hợp công cụ, phương tiện phạm tội như xe ô tô, xe mô tô, nhà, quyền sử dụng đất, tiền gửi ngân hàng… là tài sản chung của vợ chồng hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Việc xử lý những tài sản này gặp khó khăn, bởi vừa phải bảo đảm xử lý nghiêm người phạm tội, vừa phải bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của người đồng sở hữu không biết và không có lỗi đối với hành vi phạm tội.

Tại Công văn số 2160/VKSTC-V14 ngày 05/6/2023 giải đáp một số khó khăn, vướng mắc trong áp dụng pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao hướng dẫn cần xem xét yếu tố lỗi của người đồng sở hữu: Nếu người vợ hoặc chồng biết rõ và đồng ý hoặc tạo điều kiện để người phạm tội sử dụng tài sản vào việc thực hiện tội phạm thì có thể tịch thu toàn bộ; nếu người đồng sở hữu không biết và không có lỗi thì có thể không tịch thu phần giá trị tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.

Tuy nhiên, thực tiễn lại có nhiều cách hiểu khác. Tại Thông báo rút kinh nghiệm số 75/VC2-V1 ngày 07/10/2024, VKSND cấp cao tại Đà Nẵng (nay là Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng) đã xác định việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tuyên tịch thu một nửa giá trị các xe ô tô, trả lại phần còn lại cho vợ các bị cáo trong vụ án “Xâm nhập trái phép vào mạng viễn thông” là không đúng pháp luật, bởi các xe ô tô là phương tiện sử dụng trực tiếp vào việc phạm tội nên phải bị tịch thu toàn bộ theo quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) và Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS).

Như vậy, việc áp dụng pháp luật trong trường hợp này chưa thống nhất, thể hiện qua ba quan điểm:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, tài sản được sử dụng trực tiếp làm công cụ, phương tiện phạm tội thì phải bị tịch thu toàn bộ, không phụ thuộc vào việc tài sản thuộc sở hữu riêng hay sở hữu chung.

Quan điểm thứ hai cho rằng, chỉ xử lý đối với phần quyền sở hữu của người phạm tội trong khối tài sản chung, bởi tịch thu toàn bộ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người đồng sở hữu không có lỗi.

Quan điểm thứ ba cho rằng, cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) không xử lý dứt điểm trong vụ án hình sự mà dành quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự để xác định phần sở hữu của từng người. Theo nhóm tác giả, cần làm rõ yếu tố “biết hoặc phải biết” của người đồng sở hữu, xác định phần quyền sở hữu của người phạm tội và có cơ chế xử lý đối với tài sản không thể phân chia trên thực tế.

- Vật chứng là tài sản bảo đảm:

Một trong những khó khăn thường gặp trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự là trường hợp vật chứng đồng thời là tài sản đang được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, phổ biến nhất là tài sản thế chấp tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng. Thực tiễn cho thấy, nhiều loại tài sàn có giá trị lớn như ô tô, máy móc, tàu thuyền, quyền sử dụng đất, nhà ở đã được chủ sở hữu thế chấp tại tổ chức tín dụng, sau đó bị sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội hoặc liên quan trực tiếp đến vụ án hình sự. Khi đó, việc xử lý vật chứng tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm.

Ví dụ: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HSST ngày 30/11/2023, Tòa án nhân dân huyện T xử phạt bị cáo Võ Văn G 09 tháng tù về tội “Buôn lậu” theo khoản 1 Điều 188 BLHS, đồng thời tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe ô tô đứng tên G. Ngân hàng TVBank (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) kháng cáo, đề nghị trả lại xe vì đang thế chấp bảo đảm khoản vay của bị cáo. Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng trả lại xe cho bị cáo để bảo đảm quyền xử lý tài sản thế chấp của ngân hàng. Đến giai đoạn giám đốc thẩm, VKSND cấp cao tại thành phố H (trước đây) kháng nghị theo hướng giao xe cho ngân hàng phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo hợp đồng thế chấp, ưu tiên thanh toán khoản nợ được bảo đảm, phần giá trị còn lại (nếu có) mới tịch thu sung ngân sách nhà nước. Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận quan điểm này, hủy phần quyết định về xử lý vật chứng của bản án phúc thẩm để xét xử lại. Diễn biến vụ án cho thấy các cơ quan THTT có cách tiếp cận khác nhau, thể hiện qua hai quan điểm:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, khi tài sản là công cụ, phương tiện phạm tội hoặc thuộc trường hợp phải tịch thu theo pháp luật hình sự thì phải ưu tiên áp dụng pháp luật hình sự, tố tụng hình sự; việc tài sản đang bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự không làm thay đổi bản chất pháp lý của vật chứng, quyền lợi của bên nhận bảo đảm được giải quyết bằng quan hệ dân sự hoặc ở giai đoạn thi hành án.

Quan điểm thứ hai cho rằng, giao dịch bảo đảm được xác lập hợp pháp trước thời điểm phạm tội làm phát sinh quyền ưu tiên thanh toán của bên nhận bảo đảm; tịch thu toàn bộ tài sản mà không xem xét quyền của tổ chức tín dụng sẽ ảnh hưởng đến quyền tài sản của người thứ ba ngay tình, làm giảm tính an toàn, ổn định của các giao dịch dân sự, thương mại.

Quan điểm của nhóm tác giả cho rằng, cần bảo vệ quyền của người thứ ba ngay tình nhưng không làm ảnh hưởng đến yêu cầu xử lý nghiêm minh người phạm tội. Cơ quan THTT cần xác minh đầy đủ thời điểm xác lập, tính hợp pháp của giao dịch bảo đảm, giá trị nghĩa vụ còn lại và việc bên nhận bảo đảm có biết tài sản bị sử dụng vào việc phạm tội hay không. Trường hợp bên nhận bảo đảm ngay tình, không có lỗi thì cần có cơ chế bảo vệ quyền ưu tiên thanh toán của họ, thay vì chuyển toàn bộ rủi ro pháp lý cho tổ chức tín dụng.

- Vật chứng không xác định được chủ sở hữu:

Không ít trường hợp cơ quan THTT thu giữ vật chứng như xe mô tô, ô tô, điện thoại, tiền mặt… nhưng không xác định được chủ sở hữu hợp pháp, trong khi việc xác minh gặp khó khăn do thiếu thông tin hoặc không xác định được nơi cư trú của chủ sở hữu.

Ví dụ: Trong một vụ án trộm cắp tài sản, bị cáo sử dụng xe mô tô mượn của người khác làm phương tiện phạm tội. Biển kiểm soát và chiếc xe thuộc hai chủ sở hữu khác nhau; Cơ quan điều tra (CQĐT) đã xác minh, ủy thác điều tra nhưng vẫn không xác định được chủ sở hữu hợp pháp, dẫn đến hai quan điểm xử lý:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, chưa đủ căn cứ xử lý vật chứng nên tiếp tục giao CQĐT xác minh. Quan điểm thứ hai cho rằng, cần giao vật chứng cho cơ quan thi hành án dân sự quản lý, thông báo truy tìm chủ sở hữu trong thời hạn nhất định; hết thời hạn mà không có người chứng minh quyền sở hữu thì tịch thu sung ngân sách nhà nước. Nhóm tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai, vì vừa bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp, vừa tránh tình trạng vật chứng bị quản lý kéo dài mà không được xử lý dứt điểm.

Có thể thấy, BLTTHS mới quy định nguyên tắc xử lý vật chứng, chưa có cơ chế cụ thể đối với tài sản không xác định được chủ sở hữu, nhất là về thời hạn xác minh, trình tự thông báo công khai, trách nhiệm của cơ quan THTT và căn cứ xử lý tài sản khi đã áp dụng đầy đủ các biện pháp xác minh.

- Tài sản liên quan đến nhiều vụ án hình sự:

Có trường hợp một tài sản đồng thời là vật chứng của nhiều vụ án, hoặc không phải là vật chứng của vụ án đang giải quyết nhưng là vật chứng của vụ án khác. Tuy nhiên, BLTTHS chưa quy định nguyên tắc xử lý cũng như cơ chế chuyển giao, quản lý loại tài sản này giữa các cơ quan THTT.

Thực tiễn có trường hợp Tòa án tuyên xử lý vật chứng ngay trong vụ án thứ nhất trong khi tài sản vẫn cần thiết để giải quyết vụ án khác; ngược lại, có trường hợp tài sản bị tạm giữ kéo dài mà không có căn cứ pháp lý rõ ràng, ảnh hưởng đến quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức và kéo dài thời gian thi hành án. Khi các vụ án do nhiều cơ quan, nhiều địa phương thụ lý, việc phối hợp, chuyển giao vật chứng còn thiếu thống nhất, tiềm ẩn nguy cơ ban hành các quyết định mâu thuẫn đối với cùng một tài sản.

2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Để khắc phục những vướng mắc nêu trên, bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất, nhóm tác giả kiến nghị bổ sung khoản 5 vào Điều 106 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025) như sau:

“Điều 106. Xử lý vật chứng

…5. Xử lý vật chứng trong một số trường hợp cụ thể:

a) Trường hợp vật chứng là tài sản thuộc sở hữu chung thì trước khi quyết định xử lý, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác minh quyền sở hữu của từng đồng chủ sở hữu. Chỉ tịch thu phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người phạm tội, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đồng sở hữu biết, đồng ý hoặc có lỗi trong việc để người phạm tội sử dụng tài sản vào việc thực hiện tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự.

b) Trường hợp vật chứng là tài sản đang được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo giao dịch dân sự được xác lập hợp pháp trước thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì việc xử lý vật chứng phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm ngay tình. Sau khi xử lý tài sản theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm để thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm, phần giá trị còn lại (nếu có) được xử lý theo quy định của Bộ luật này và Bộ luật Hình sự.

c) Trường hợp vật chứng không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để xác minh, thông báo công khai việc truy tìm chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Hết thời hạn luật định mà không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự để xử lý theo quy định của pháp luật.

d) Trường hợp vật chứng đồng thời liên quan đến nhiều vụ án hình sự thì cơ quan đang quản lý vật chứng có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan để thống nhất việc quản lý, khai thác và sử dụng vật chứng phục vụ hoạt động tố tụng. Việc xử lý vật chứng chỉ được thực hiện sau khi không còn cần thiết cho việc giải quyết các vụ án có liên quan hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

e) Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp hướng dẫn trình tự, thủ tục quản lý, chuyển giao và xử lý vật chứng quy định tại khoản này.”

Việc bổ sung quy định nêu trên sẽ tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các tình huống đặc thù mà Điều 106 BLTTHS hiện hành chưa điều chỉnh đầy đủ, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu xử lý nghiêm minh vật chứng với việc bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp, quyền của bên nhận bảo đảm và người thứ ba ngay tình, qua đó thống nhất nhận thức và áp dụng pháp luật giữa các cơ quan THTT.

Trần Hữu Hòa - VKSND tỉnh Sơn La

Đặng Thị Hạnh VKSND khu vực 1 tỉnh Sơn La

(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang