1. Điều chỉnh pháp luật của Việt Nam về phòng ngừa tham nhũng
Một đặc điểm quan trọng trong quá trình thể chế hóa chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phòng, chống tham nhũng là coi trọng, đề cao, đặt lên hàng đầu việc phòng ngừa tham nhũng. Điều này thể hiện rất rõ trong toàn bộ Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật PCTN năm 2018) của Việt Nam, cụ thể là từ Điều 9 đến Điều 54. Phòng ngừa tham nhũng được thể hiện trong nhiều nội dung như:
(i) Công khai, minh bạch về tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, bao gồm: Công khai, minh bạch về tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình; công khai, minh bạch theo quy định của pháp luật về các nội dung hoạt động; các hình thức công khai; trách nhiệm thực hiện việc công khai, minh bạch; họp báo, phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí; quyền yêu cầu thông tin; trách nhiệm giải trình; báo cáo công khai về công tác phòng, chống tham nhũng; tiêu chí đánh giá về phòng, chống tham nhũng[1]; (ii) Xây dựng và thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, bao gồm: Xây dựng, ban hành và thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ; kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về định mức, tiêu chuẩn, chế độ[2]; (iii) Thực hiện quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, bao gồm: Quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn; thẩm quyền ban hành quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; quà tặng và nhận quà tặng; kiểm soát xung đột lợi ích[3]; (iv) Chuyển đổi vị trí công tác của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, bao gồm: Nguyên tắc chuyển đổi vị trí công tác; vị trí công tác và thời hạn phải định kỳ chuyển đổi; kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác; (v) Cải cách hành chính, ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý và thanh toán không dùng tiền mặt, bao gồm: Cải cách hành chính; ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý; thanh toán không dùng tiền mặt[4]; (vi) Kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị[5]. Trong các giải pháp nói trên, các giải pháp công khai, minh bạch trong hoạt động công vụ, kiểm soát tài sản, thu nhập, kiểm soát quyền lực được pháp luật Việt Nam điều chỉnh rất cụ thể, chi tiết. Đây là các giải pháp phòng ngừa tham nhũng căn cơ, cốt lõi, trọng yếu, phòng ngừa từ sớm, từ xa.
Minh bạch trong hoạt động công vụ là một nguyên tắc then chốt để kiểm soát tham nhũng ngay từ khâu ban hành, thực thi chính sách. Luật PCTN năm 2018 dành Chương II quy định chi tiết về công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, bao gồm: Ban hành, thực hiện chính sách; quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công; công tác cán bộ; hoạt động đấu thầu, đầu tư công[6]. Đặc biệt, trách nhiệm giải trình được luật hóa thành nghĩa vụ bắt buộc của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi thực thi công vụ, tạo hành lang pháp lý để người dân và xã hội giám sát. Điều này cũng phù hợp với Hiến pháp năm 2013, khẳng định “Nhà nước tổ chức, hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”[7].
Kê khai, công khai và kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn là giải pháp trọng yếu để phòng ngừa tham nhũng, lợi ích nhóm[8]. Luật PCTN năm 2018 đã thiết lập cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập khá toàn diện, quy định nghĩa vụ kê khai, công khai bản kê khai và cơ chế xác minh, xử lý vi phạm[9]. Đây là bước tiến mới so với các giai đoạn trước, khi việc kê khai chủ yếu mang tính hình thức và thiếu cơ chế xác minh độc lập.
Cùng với đó, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) quy định Tội rửa tiền dưới hình thức xử lý hành vi giải thích không hợp lý về nguồn gốc tài sản tăng thêm[10]. Dù việc áp dụng trong thực tiễn còn hạn chế, song đây là sự tiệm cận với chuẩn mực quốc tế theo Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC)[11]. Như vậy, pháp luật Việt Nam đã thể chế hóa các chủ trương của Đảng về minh bạch hóa tài sản, đồng thời từng bước đồng bộ với pháp luật hình sự và các công ước quốc tế.
Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh nguyên tắc mọi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế, quyền hạn phải gắn liền với trách nhiệm. Một trong những chủ trương lớn được Đảng đề ra tại Đại hội lần thứ XIII là xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, coi đây là điều kiện tiên quyết để ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực. Pháp luật phòng, chống tham nhũng thể chế hóa chủ trương này qua nhiều công cụ: Chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức để phòng ngừa lợi ích nhóm; cấm, hạn chế một số việc sau khi thôi giữ chức vụ nhằm ngăn chặn “cửa sau”; và đặc biệt là quy định trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong phạm vi quản lý[12].
Ngoài ra, sự đồng bộ còn thể hiện trong mối quan hệ giữa pháp luật phòng, chống tham nhũng với các thiết chế khác như Luật cán bộ, công chức năm 2025, Luật tổ chức Chính phủ năm 2025, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, trong đó quy định rõ cơ chế phân quyền, phân cấp, kiểm tra và giám sát, nhằm bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi trong khuôn khổ pháp luật và không bị tha hóa.
2. Điều chỉnh pháp luật của Việt Nam về chống tham nhũng
- Điều chỉnh pháp luật về các tội tham nhũng trong khu vực công:
Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định tương đối toàn diện các tội phạm tham nhũng, tập trung chủ yếu vào khu vực công, đó là: Tội tham ô tài sản (Điều 353); Tội nhận hối lộ (Điều 354); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358); Tội giả mạo trong công tác (Điều 359).
Ngoài ra, BLHS năm 2015 còn quy định các tội liên quan khác như: Tội đưa hối lộ (Điều 364); Tội môi giới hối lộ (Điều 365); Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi (Điều 366) nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế xử lý cả “cung” và “cầu” của hành vi tham nhũng.
Đặc điểm chung của các tội phạm tham nhũng trong khu vực công là chủ thể đặc thù - người có chức vụ, quyền hạn, tức người được giao thực hiện nhiệm vụ công, có quyền hạn nhất định trong cơ quan, tổ chức nhà nước. Điều này thể hiện quan điểm của pháp luật Việt Nam: Tham nhũng trước hết nảy sinh từ sự tha hóa quyền lực công.
Một bước tiến quan trọng trong chính sách hình sự về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam là sự mở rộng phạm vi áp dụng sang khu vực tư. Theo đó, BLHS năm 2015 lần đầu tiên quy định việc áp dụng một số tội phạm tham nhũng cho cả khu vực tư. Ví dụ: Điều 354 (Tội nhận hối lộ) và Điều 364 (Tội đưa hối lộ) không chỉ áp dụng đối với người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực nhà nước, mà còn áp dụng với người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước khi họ lợi dụng chức vụ để thực hiện hành vi tham nhũng[13]. Điều này phù hợp với yêu cầu của Công ước về chống tham nhũng của Liên hợp quốc (UNCAC) về mở rộng phạm vi xử lý tham nhũng ra ngoài khu vực công[14]. Bên cạnh đó, Luật PCTN năm 2018 lần đầu tiên điều chỉnh hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước. Luật quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp, tổ chức xã hội sử dụng vốn nhà nước trong việc xây dựng cơ chế công khai, minh bạch, kiểm soát xung đột lợi ích, đồng thời xác định hành vi tham nhũng ở khu vực này cũng phải chịu xử lý theo pháp luật hình sự, hành chính và dân sự[15].
Việc mở rộng phạm vi áp dụng sang khu vực tư cho thấy tham nhũng không chỉ là hiện tượng riêng của bộ máy công quyền, mà còn có thể phát sinh trong các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, nhất là khi khu vực tư ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội.
- Đặc điểm của các hình phạt đối với các tội phạm tham nhũng:
Mức hình phạt nghiêm khắc: Các tội phạm tham nhũng được xem là loại tội đặc biệt nghiêm trọng, xâm hại trực tiếp đến hoạt động đúng đắn của bộ máy nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đồng thời làm suy giảm lòng tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Do đó, BLHS năm 2015 quy định mức hình phạt rất nghiêm khắc, từ phạt tù có ở mức cao cho đến tù chung thân đối với các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, như Tội tham ô tài sản (Điều 353), Tội nhận hối lộ (Điều 354). Đây là cơ sở pháp lý thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Việt Nam trong việc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” khi xử lý tham nhũng[16].
Chú trọng tịch thu, thu hồi tài sản tham nhũng: Bên cạnh hình phạt tù, pháp luật còn quy định việc tịch thu, sung công quỹ tài sản do tham nhũng mà có; đồng thời áp dụng các biện pháp bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật PCTN năm 2018 đều nhấn mạnh mục tiêu thu hồi tài sản tham nhũng[17]. Các cơ chế này nhằm đảm bảo “không để tham nhũng thành có lợi”, đồng thời khắc phục triệt để hậu quả của hành vi phạm tội.
Vấn đề phối hợp giữa chế tài hình sự - kỷ luật Đảng - xử lý hành chính: Một đặc thù ở Việt Nam là bên cạnh việc xử lý bằng pháp luật, còn có sự phối hợp với kỷ luật Đảng và xử lý hành chính. Đảng đã khẳng định: Xử lý nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng, kỷ luật hành chính của Nhà nước và xử lý hình sự đối với cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực. Trong nhiều trường hợp, việc xử lý kỷ luật Đảng được tiến hành trước, làm cơ sở cho việc xử lý bằng pháp luật hình sự; ngược lại, kết quả xử lý hình sự cũng là căn cứ để áp dụng các hình thức kỷ luật hành chính và kỷ luật Đảng.
- Điều chỉnh pháp luật của Việt Nam về phát hiện tham nhũng:
Pháp luật Việt Nam điều chỉnh cụ thể việc phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Cụ thể:
(i) Công tác kiểm tra và tự kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị bao gồm: Công tác thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước; công tác tự kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm tra hoạt động chống tham nhũng trong cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân[18]; (ii) Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm toán bao gồm: Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử và xử lý đề nghị của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử; hoạt động thanh tra, kiểm toán[19]; (iii) Phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng, bao gồm: Phản ánh, tố cáo và xử lý phản ánh, giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng; báo cáo và xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng[20].
3. Các thiết chế phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
Hệ thống thiết chế phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam được tổ chức đa tầng, bao gồm cả cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và các cơ quan kiểm tra, giám sát chuyên trách. Mỗi thiết chế có vị trí, chức năng, nhiệm vụ riêng, nhưng đồng thời bổ trợ và phối hợp với nhau, tạo thành một cơ chế tổng thể nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi tham nhũng.
Các thiết chế phòng ngừa tham nhũng bao gồm: (i) Quốc hội và Ủy ban Pháp luật và Tư pháp; (ii) Chính phủ và Thanh tra Chính phủ; (iii) Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân; (iv) Kiểm toán nhà nước; (v) Các thiết chế trong Đảng và cơ chế đặc thù (Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Ủy ban Kiểm tra Trung ương); (vi) Trách nhiệm của xã hội và Nhân dân trong phòng, chống tham nhũng (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; (vii) Trách nhiệm của cơ quan báo chí, truyền thông và nhà báo trong phòng, chống tham nhũng; (viii) Trách nhiệm của doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và công dân trong phòng, chống tham nhũng.
Luật PCTN năm 2018 của Việt Nam quy định các cơ quan chuyên trách chống tham nhũng gồm: Những cơ quan chuyên trách chống tham nhũng trong Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Đỗ Kim Định
[1] . Luật PCTN năm 2018, các điều 9 - 17.
[2] . Luật PCTN năm 2018, các điều 18 - 23.
[3] . Luật PCTN năm 2018, các điều 24 - 26.
[4] . Luật PCTN năm 2018, các điều 27 - 51.
[5] . Luật PCTN năm 2018, các điều 52 - 54.
[6] . Luật PCTN năm 2018, Chương II.
[7] . Điều 8 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
[8] . Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.185-186.
[9] . Điều 8 Luật NCTN năm 2018, Chương III.
[10] . Điều 324 BLHS năm 2015, sửa đổi các năm 2017, 2025.
[11] United Nations (2003). United Nations Convention against Corruption (UNCAC), adopted by General Assembly resolution 58/4 of 31 October 2003.
[12] Luật PCTN năm 2018, các điều 25, 29, 31.
[13] . Khoản 6 Điều 354; khoản 6 Điều 364 BLHS năm 2015.
[14] United Nations (2003). United Nations Convention against Corruption (UNCAC), Articles 12 & 21.
[15] Luật PCTN năm 2018, Chương V.
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, tr.180.
[17] Luật PCTN năm 2018.
[18] Luật PCTN năm 2018, các điều 55 - 57.
[19] Luật PCTN năm 2018, các điều 59 - 60.
[20] Luật PCTN năm 2018, các điều 65 - 66.
Bài viết chưa có bình luận nào.