Những năm gần đây, tình trạng sử dụng dao, mã tấu, hung khí tự chế để giết người, gây thương tích, cướp tài sản, gây rối trật tự công cộng diễn biến rất phức tạp. Các vụ việc này không chỉ xảy ra ở khu vực đô thị, mà còn ở vùng nông thôn, khu vực giáp ranh, trong đó nhiều trường hợp dao được sử dụng như một loại vũ khí mang tính sát thương cao.
Qua tổng kết 05 năm thi hành Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 cho thấy, trong tổng số 28.715 vụ đối tượng sử dụng trái phép vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây án giết người, cướp tài sản, cố ý gây thương tích, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng… thì có đến 25.378 vụ (chiếm 88,4%) đối tượng sử dụng vũ khí thô sơ, dao và phương tiện tương tự dao gây án. Riêng đối tượng sử dụng các loại dao gây án là 16.841/25.378 vụ (chiếm 66,4%), nhiều vụ đối tượng sử dụng dao nhọn, sắc có tính sát thương rất cao (dao bầu, dao phay, dao quắm…) giết người với tính chất manh động, tàn ác, dã man gây bức xúc dư luận xã hội, hoang mang, lo lắng trong nhân dân[1].
Thuật ngữ “dao có tính sát thương cao” là khái niệm lần đầu tiên được pháp luật Việt Nam chính thức ghi nhận trong Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024. Theo đó, dao có tính sát thương cao là “dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành”[2]. Trước khi có Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024, pháp luật chưa quy định rõ về việc xử lý hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao là vũ khí quân dụng. Do vậy, việc bổ sung quy định dao có tính sát thương cao được coi là vũ khí quân dụng là hết sức cần thiết, góp phần phần tăng cường tính răn đe của pháp luật, hạn chế cả về số lượng và tính chất nghiêm trọng của các vụ án xảy ra trong thực tiễn có liên quan đến việc các đối tượng sử dụng dao có tính sát thương cao để thực hiện hành vi phạm tội.
Hiện nay, do pháp luật chưa quy định cụ thể và chưa có hướng dẫn liên ngành nên việc điều tra các vụ án có liên quan đến loại vũ khí này gặp khó khăn trong việc xác định khi nào dao có tính sát thương cao được coi là vũ khí quân dụng, vũ khí thô sơ hay chỉ là hung khí nguy hiểm; việc định tội danh, thời điểm cấu thành tội phạm, xác định thẩm quyền điều tra đối với các vụ án có liên quan đến sử dụng dao có tính sát thương cao…
1. Một số vướng mắc trong quy định của pháp luật khi điều tra các vụ án liên quan đến dao có tính sát thương cao
Thứ nhất, về trách nhiệm xác định tính chất pháp lý của dao có tính sát thương cao:
Một trong những khó khăn trong quá trình điều tra là phải xác định dao đó có phải dao có tính sát thương hay không và dao đó có phải vũ khí quân dụng, vũ khí thô sơ hay không. Do vậy, Cơ quan điều tra phải tiến hành trưng cầu giám định để đưa ra kết luận chính xác. Tuy nhiên, Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ chỉ liệt kê tiêu chuẩn kích thước và hình dạng để xác định dao có tính sát thương cao. Theo đó, dao có tính sát thương cao gồm 04 nhóm với cấu tạo, đặc điểm cơ bản bao gồm: (1). Dao sắc, nhọn: Tay cầm, lưỡi dao; lưỡi sắc và nhọn, hình dạng thẳng hoặc cong, có chiều dài từ 12cm trở lên, chiều rộng từ 2cm trở lên; (2). Dao sắc: Tay cầm, lưỡi dao; lưỡi sắc không có đầu nhọn, hình dạng thẳng hoặc cong, chiều dài từ 20cm trở lên, chiều rộng từ 05 cm trở lên; (3). Dao gấp, dao bấm: Tay cầm, lưỡi dao; lưỡi có một hoặc nhiều cạnh sắc, nhọn, gấp hoặc bấm lại được, chiều dài từ 07cm trở lên; (4) Dao tự chế hoặc hoán cải: Tay cầm, lưỡi dao; tay cầm dài từ 30cm trở lên; lưỡi có chiều dài từ 05cm trở lên, sắc nhọn hoặc sắc hoặc nhọn[3].
Tuy nhiên, để xác định có phải là vũ khí quân dụng hay vũ khí thô sơ không chỉ căn cứ vào đặc điểm, cấu tạo của dao, mà còn phải căn cứ vào mục đích sử dụng. Vậy, kết luận dao có tính sát thương cao là vũ khí quân dụng hay vũ khí thô sơ thuộc về trách nhiệm của cơ quan giám định hay thuộc về Cơ quan điều tra?
Trên thực tế có những cơ quan giám định chỉ đưa ra kết luận xác định dao đó có phải là dao có tính sát thương cao hay không và từ chối đưa ra kết luận về việc xác định dao có tính sát thương đó có phải là vũ khí quân dụng hoặc vũ khí thô sơ hay không, với lý do, đó là vấn đề thuộc thẩm quyền đánh giá của Cơ quan điều tra, mà không thuộc chuyên môn giám định. Điều này gây ra tình trạng không thống nhất trong thực tiễn xử lý.
Thứ hai, về việc xác định tội danh tương ứng:
Để xác định tính chất nguy hiểm của dao có tính sát thương không chỉ dựa vào đặc điểm vật lý của con dao, mà còn phụ thuộc vào khả năng gây hại thực tế của nó trong điều kiện sử dụng cụ thể. Theo Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024, căn cứ vào mục đích sử dụng, dao có tính sát thương được xác định theo 03 nhóm: (1) Là vũ khí thô sơ nếu sử dụng với mục đích để thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ; (2) Là vũ khí quân dụng nếu sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật; (3) Không được coi là vũ khí nếu sử dụng phục vụ mục đích lao động, sản xuất, sinh hoạt hàng ngày.
Đối với trường hợp xác định dao có tính sát thương cao là vũ khí quân dụng, còn tồn tại các quan điểm khác nhau, cụ thể:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao chỉ được coi là vũ khí quân dụng khi thực hiện Tội giết người - Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và Tội cố ý gây thương tích, hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (Điều 134 BLHS năm 2015).
Quan điểm thứ hai cho rằng, ngoài 02 tội danh nói trên, dao có tính sát thương cao còn được xác định là vũ khí quân dụng khi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe trong cấu thành của nhiều tội khác như: Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 BLHS năm 2015), Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 126 BLHS năm 2015), Tội vô ý làm chết người (Điều 128 BLHS năm 2015), Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 129 BLHS năm 2015), Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135 BLHS năm 2015); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136 BLHS năm 2015); Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (Điều 138 BLHS năm 2015), Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 139 BLHS năm 2015), Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS năm 2015); Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169 BLHS năm 2015); Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180 BLHS năm 2015).
Vấn đề ở đây là cần hiểu thuật ngữ “sử dụng với mục đích” ở đây như thế nào cho đúng? Việc sử dụng dao có tính sát thương cao phải qua một quá trình chuẩn bị và mong muốn hậu quả đó xảy ra, hay được hiểu là việc sử dụng dao có tính sát thương cao gây ra hậu quả thương tích hoặc với những tội phạm khác, tuy không mong muốn gây ra hậu quả đối với sức khỏe, tính mạng của người khác, nhưng thực tế lại gây ra hậu quả chết người hoặc thương tích cho người khác?
Đối với trường hợp xác định dao có tính sát thương cao được xác định là vũ khí thô sơ cũng chưa được xác định rõ ràng khi Luật chỉ quy định mục đích sử dụng dao có tính sát thương cao để thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ, mà không quy định việc sử dụng dao gắn với tội danh cụ thể. Do vậy, cần có văn bản hướng dẫn rõ về việc sử dụng dao có tính sát thương cao thực hiện hành vi phạm tội gắn với các tội danh cụ thể trong BLHS để bảo đảm việc áp dụng pháp luật thống nhất trong quá trình điều tra vụ án.
Việc phân loại này đặt ra yêu cầu rất cao đối với các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình chứng minh yếu tố chủ quan - khách quan của hành vi, đặc biệt là chứng minh mục đích sử dụng của dao tại thời điểm xảy ra vụ việc. Đây chính là yếu tố then chốt để định tội danh đúng người, đúng tội và không bỏ lọt tội phạm.
Thứ ba, về việc xử lý đồng thời hai tội danh:
Theo khoản 6 Điều 3 Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐTP ngày 09/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 304, 305, 306, 307 và Điều 308 của BLHS (Nghị quyết số 03/2022): Người nào thực hiện hành vi quy định tại các điều 304, 305, 306 của BLHS với mục đích là chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện một tội phạm tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 301, 302, 303 và 324 của BLHS thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả 02 tội. Như vậy, đối với người sử dụng dao có tính sát thương cao thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác như giết người, cố ý gây thương tích thì sẽ bị khởi tố 02 tội: Tội cố ý gây thương tích hoặc tội giết người và tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng (Điều 304 BLHS năm 2015).
Tuy nhiên, đối với người sử dụng dao có tính sát thương cao nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ thì hiện tại không có hướng dẫn. Trong khi đó, theo Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 thì trường hợp này dao có tính sát thương cao được coi là vũ khí thô sơ. Vậy trường hợp này sẽ xử lý về những tội danh nào, ngoài Tội gây rối trật tự công cộng hay Tội chống người thi hành công vụ thì có xử lý về Tội sử dụng trái phép vũ khí thô sơ (Điều 306 BLHS năm 2015) hay không?
Thứ tư, về việc xác định thời điểm cấu thành tội phạm:
Liên quan đến thời điểm xác định dao có tính sát thương cao là vũ khí quân dụng còn có nhiều quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, khi mang theo dao và có ý định sử dụng vào mục đích xâm phạm sức khỏe, tính mạng người khác, thì đã đủ yếu tố cấu thành tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.
Quan điểm thứ hai cho rằng, chỉ khi dao thực sự được sử dụng để đâm, chém hoặc có hành vi cụ thể nhằm phát huy tính năng sát thương, mới đủ yếu tố cấu thành tội danh.
Quan điểm thứ ba cho rằng, khi sử dụng dao để đâm, chém phải có hậu quả xảy ra, tức là phải có tỉ lệ phần trăm gây thương tích hoặc làm chết người. Chẳng hạn, đối tượng đã có hành vi tấn công bằng dao có tính sát thương cao (chém hụt, đâm vào mũ bảo hiểm, rượt đuổi), nhưng không gây thương tích thực tế. Trong những trường hợp này, nhiều Điều tra viên cho rằng chưa đủ căn cứ để xử lý về Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng do không có hậu quả xảy ra.
Vậy với trường hợp này cần xác định thời điểm cấu thành tội phạm sử dụng trái phép vũ khí quân dụng là thời điểm nào. Đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì trên cơ sở xác định đúng thời điểm cấu thành tội phạm thì mới có thể xác định hành vi sử dụng trái phép vũ khí quân dụng đã cấu thành tội phạm hay chưa để Cơ quan điều tra có thể ra các quyết định tố tụng một cách chính xác.
Thứ năm, về việc xác định thẩm quyền điều tra:
Trường hợp điều tra các vụ án hình sự mà đối tượng dùng dao có tính sát thương cao để thực hiện hành vi phạm tội như cố ý gây thương tích, giết người thì sẽ bị xử lý 02 tội như đã phân tích ở trên, vậy thẩm quyền điều tra sẽ thuộc về cơ quan nào? Vì theo quy định của Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015, Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra, còn Tội cố ý gây thương tích hoặc Tội giết người lại thuộc thẩm quyền của Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Đối với trường hợp này có 03 quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, thẩm quyền điều tra vụ án thuộc về Cơ quan an ninh điều tra. Quan điểm thứ hai cho rằng, thẩm quyền điều tra thuộc về Cơ quan Cảnh sát điều tra. Quan điểm thứ ba cho rằng, ra quyết định tách vụ án, chuyển vụ án sử dụng trái phép vũ khí quân dụng cho Cơ quan An ninh điều tra, chuyển vụ án cố ý gây thương tích hoặc giết người cho Cơ quan Cảnh sát điều tra.
2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Một là, xác định rõ trách nhiệm kết luận tính chất của dao có tính sát thương cao.
Cần quy định thống nhất về trách nhiệm kết luận giám định. Hiện nay, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025, kết luận giám định là một trong 07 loại nguồn chứng cứ và là một loại nguồn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình chứng minh tội phạm. Do vậy, các kết luận trong bản kết luận giám định phải đưa ra những thông tin chính xác, đầy đủ về vấn đề được trưng cầu giám định. Đồng thời, căn cứ vào quy định về thẩm quyền của người giám định được quy định tại Điều 68 BLTTHS sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 thì người giám định có đầy đủ cơ sở để đưa ra kết luận cuối cùng về dao có tính sát thương cao thuộc loại nào.
Từ những phân tích trên, cần có văn bản hướng dẫn, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan được trưng cầu giám định là cơ quan đưa ra kết luận cuối cùng trong việc xác định tính chất của dao thuộc loại nào; đồng thời, bổ sung danh mục bắt buộc trưng cầu giám định đối với các loại dao nghi ngờ có tính sát thương cao trong các vụ án hình sự.
Hai là, cần quy định rõ hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao là vũ khí quân dụng hay vũ khí thô sơ gắn với các tội danh cụ thể.
Như đã phân tích, hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao được coi là vũ khí quân dụng nếu sử dụng vào mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác. Ở đây, chúng ta cần hiểu “sử dụng vào mục đích” phải là hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ được hành vi nguy hiểm và mong muốn đạt được mục đích gây ra hậu quả gây chết người hoặc gây thương tích cho người khác. Do vậy, đối với các tội phạm được thực hiện với lỗi vô ý như tội phạm được quy định tại các điều 128, 129, 138, 139, 180 BLHS năm 2015 thì không thể hiểu là được sử dụng vào mục đích gây thương tích hoặc chết người, nên trường hợp này việc sử dụng dao có tính sát thương không được xác định là vũ khí quân dụng.
Tương tự, đối với trường hợp người sử dụng dao có tính sát thương cao thực hiện hành vi phạm tội không nhằm mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác nhưng thực tế đã gây ra hậu quả như Điều 168, 169 BLHS năm 2015 cũng không được coi là vũ khí quân dụng.
Đối với các tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý, nhưng phạm tội trong những điều kiện đặc biệt do có lỗi từ phía bị hại; đồng thời đây cũng là những trường hợp được quy định là tình tiết giảm nhẹ trong Điều 51 BLHS năm 2015, như các tội quy định tại các điều 125, 126, 135, 136 BLHS năm 2015 thì theo tác giả, nguời sử dụng dao có tính sát thương cao trong những trường hợp này không phải là vũ khí quân dụng.
Đối với hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao để gây rối trật tự công cộng hoặc chống người thi hành công vụ thì được xác định là vũ khí thô sơ. Rà soát các quy định của BLHS năm 2015, có 02 tội danh gắn với hành vi này là Tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318) và Tội chống người thi hành công vụ (Điều 330). Cần thống nhất xác định dao có tính sát thương cao là vũ khí quân dụng nếu được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 134 BLHS năm 2015; là vũ khí thô sơ nếu được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội quy định tại Điều 318, Điều 330 BLHS năm 2015.
Cần sửa đổi điểm d khoản 2 Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 như sau: “... d) Súng săn, vũ khí quy định tại điểm a khoản 4, vũ khí quy định tại điểm a khoản 5; dao có tính sát thương cao quy định tại khoản 6 Điều này sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội được quy định tại Điều 123, Điều 134 BLHS”; sửa đổi điểm b khoản 4 Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ: “b. Dao có tính sát thương cao quy định tại khoản 6 Điều này sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội được quy định tại Điều 318, Điều 330 BLHS”.
Thứ ba, cần thống nhất về xác định xử lý một hay đồng thời hai tội danh.
Căn cứ vào Nghị quyết số 03/2022, hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao để thực hiện hành vi phạm tội tại Điều 123 hoặc Điều 134 của BLHS năm 2015 thì sẽ bị khởi tố về cả 02 tội.
Tuy nhiên, Nghị quyết này không quy định đối với trường hợp sử dụng vũ khí thô sơ (Điều 306 BLHS năm 2015) để thực hiện tội phạm quy định tại Điều 318 và Điều 330 BLHS năm 2015. Tác giả cho rằng, việc sử dụng dao có tính sát thương cao để thực hiện hành vi phạm tội gây rối trật tự công cộng hoặc phạm tội chống người thi hành công vụ sẽ làm tăng tính nguy hiểm đáng kể đối với những tội này. Do vậy, để bảo đảm tính răn đe, nghiêm minh xử lý đối với những hành vi có tính nguy hiểm cao, trường hợp này phải xử lý đồng thời 02 tội là Tội sử dụng trái phép vũ khí thô sơ và Tội gây rối trật tự công cộng hoặc Tội chống người thi hành công vụ.
Do vậy, có thể sửa đổi khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 03/2022 như sau:
…“3. Người nào thực hiện hành vi quy định tại các điều 304, 305, 306 của BLHS với mục đích là chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện một tội phạm tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 301, 302, 303, 318, 324, 330 của BLHS thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả 02 tội”.
Bốn là, cần thống nhất về thời điểm cấu thành tội phạm đối với hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao phạm tội.
Ví dụ: Hành vi sử dụng súng quân dụng là lên đạn, bóp cò; hành vi sử dụng lựu đạn là rút chốt, giật nụ xùy; hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao là hành vi dùng dao đâm, chém người khác (chưa cần có thiệt hại xảy ra).
Thứ năm, cần hướng dẫn thống nhất về thẩm quyền điều tra đối với các vụ án sử dụng dao có tính sát thương cao xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác bảo đảm tính khách quan, toàn diện, đúng quy định của pháp luật. Vì nếu tách vụ án để điều tra thì sẽ không đảm bảo sự khách quan, toàn diện, do các hành vi phạm tội có liên quan chặt chẽ với nhau, nếu không sử dụng dao có tính sát thương cao để xâm phạm tính mạng, sức khoẻ người khác trái pháp luật thì không phạm tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Hơn nữa việc tách vụ án đòi hỏi sự phối hợp giữa các cơ quan điều tra với nhau trong quá trình giải quyết sẽ phát sinh nhiều thủ tục phức tạp, có thể dẫn đến việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
Nếu chuyển vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra thì sẽ không đúng thẩm quyền theo quy định Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, vì Cơ quan Cảnh sát điều tra không có thẩm quyền điều tra đối với các tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan An ninh điều tra.
Hiện nay, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 quy định, Cơ quan An ninh điều tra có thẩm quyền điều tra đối với tội phạm được quy định tại Điều 304 BLHS. Đối với Tội giết người hoặc Tội cố ý gây thương tích thuộc thẩm quyền của Cơ quan cảnh sát điều tra. Tuy nhiên, luật cũng quy định Cơ quan An ninh điều tra có thẩm quyền tiến hành điều tra đối với các tội phạm khác trong trường hợp để bảo đảm sự khách quan theo sự phân công của Bộ trưởng Bộ Công an nên có thể vận dụng quy định này để xác định thẩm quyền điều tra thuộc về cơ quan An ninh điều tra trong trường hợp khởi tố đồng thời 02 tội danh.
Vì vậy, trước hết, cần ban hành văn bản hướng dẫn theo hướng giao toàn bộ vụ án cho Cơ quan An ninh điều tra thì sẽ bảo đảm tính khách quan, toàn diện và đúng quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, với quy định mới này, thời gian tới, tội phạm sử dụng dao có tính sát thương cao xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác sẽ tăng lên rất nhiều. Nếu vận dụng quy định hiện hành giao án cho Cơ quan An ninh điều tra thì phải có sự phân công của Bộ trưởng Bộ Công an. Điều này sẽ làm quy trình giải quyết vụ án trở nên phức tạp. Cần nghiên cứu sửa đổi Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2021 theo hướng bổ sung thêm loại án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra nếu trong vụ án đó vừa có hành vi phạm tội thuộc thẩm quyền của Cơ quan Cảnh sát điều tra, vừa có hành vi phạm tội thuộc thẩm quyền của Cơ quan An ninh điều tra, mà các hành vi này có mối quan hệ nhân quả với nhau.
Trần Ngọc Minh
[1] https://laodong.vn/thoi-su/ly-giai-nguyen-nhan-dua-
dao-co-tinh-sat-thuong-cao-vao-nhom-vu-khi-tho-so-1339548.ldo.
[2] Khoản 6 Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024.
[3] Phụ lục 5 Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Bài viết chưa có bình luận nào.