1. Về sự cần thiết bổ sung quy định
Quyết định hình phạt đối với trường hợp người phạm tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt tại Điều 54 dự thảo BLHS (sửa đổi) là chính sách có ý nghĩa trong việc tiếp tục phân hóa trách nhiệm hình sự, thực hiện chính sách khoan hồng, khuyến khích người phạm tội chủ động nhận trách nhiệm, tích cực hợp tác, khắc phục hậu quả và góp phần giải quyết vụ án nhanh chóng, hiệu quả.
Việc bổ sung quy định này đồng thời cần được đặt trong mối quan hệ thống nhất với dự thảo BLTTHS (sửa đổi), bởi dự thảo BLTTHS đã bổ sung đối với trường hợp bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt để được hưởng khoan hồng. Đây là một trong những nội dung thể hiện định hướng đổi mới thủ tục tố tụng theo hướng tinh gọn, hiệu quả và tăng cường phân hóa trong xử lý tội phạm.
Tuy nhiên, để quy định này được áp dụng thống nhất hoặc có cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, tác giả đề nghị tiếp tục hoàn thiện Điều 54 theo hướng xác định rõ điều kiện, phạm vi, mức độ khoan hồng và cơ chế kiểm soát đối với trường hợp người phạm tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt.
2. Một số ý kiến từ thực tiễn
Về Điều 54 Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi):
Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự cho thấy thái độ của người phạm tội sau khi thực hiện hành vi có sự khác nhau đáng kể. Có trường hợp người phạm tội chủ động khai báo ngay từ đầu, thừa nhận hành vi, cung cấp thông tin giúp làm rõ vụ án, tự nguyện khắc phục hậu quả; nhưng cũng có trường hợp chỉ nhận tội sau khi cơ quan tiến hành tố tụng đã thu thập đầy đủ chứng cứ hoặc nhận tội nhằm được hưởng mức hình phạt thấp hơn.
Trong khi đó, Bộ luật Hình sự hiện hành đã ghi nhận nhiều chính sách giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như tự thú, thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm, lập công chuộc tội, tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả. Việc bổ sung một cơ chế khoan hồng đặc biệt đối với người tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt là bước phát triển tiếp theo, nhằm tạo động lực để người phạm tội chủ động chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Tuy nhiên, cơ chế này chỉ phát huy hiệu quả khi được thiết kế đồng bộ giữa pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng. Dự thảo BLTTHS đã xác định việc áp dụng thủ tục rút gọn trong trường hợp này phải gắn với tính tự nguyện và sự phù hợp của lời nhận tội với các chứng cứ khách quan; lời nhận tội không được trở thành căn cứ duy nhất để buộc tội, kết tội.
Do đó, quy định tại Điều 54 BLHS cần phản ánh đầy đủ tinh thần này. Việc người phạm tội nhận tội và chấp nhận hình phạt không thể được hiểu là cơ sở đương nhiên để giảm hình phạt mà phải được đặt trong tổng thể các yếu tố về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, hậu quả đã xảy ra, mức độ khắc phục hậu quả và thái độ hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng.
Đồng thời, dự thảo BLTTHS (sửa đổi), cần nghiên cứu, xem xét những nội dung liên quan sau:
Một là, thống nhất với BLHS về nội hàm của các thuật ngữ “tự nguyện nhận tội”, “chấp nhận hình phạt”, “được hưởng khoan hồng”, “bồi thường, khắc phục hậu quả”.
Hai là, cần quy định rõ trình tự xác nhận sự tự nguyện của bị can, bị cáo; trách nhiệm giải thích quyền, nghĩa vụ và hậu quả pháp lý; trường hợp người phạm tội thay đổi lời nhận tội hoặc rút lại việc chấp nhận hình phạt thì xử lý như thế nào.
Ba là, cần quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong việc đánh giá điều kiện áp dụng cơ chế này.
Bốn là, cần thiết lập cơ chế xử lý thống nhất trường hợp người phạm tội đã tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt ở giai đoạn điều tra hoặc truy tố nhưng tại phiên tòa thay đổi lời khai, không còn chấp nhận hình phạt hoặc xuất hiện tình tiết mới làm thay đổi căn cứ buộc tội.
Năm là, cần có quy định chuyển tiếp và hướng dẫn áp dụng thống nhất đối với những vụ án đang được giải quyết khi BLHS và BLTTHS sửa đổi có hiệu lực, nhất là trường hợp hành vi phạm tội xảy ra trước thời điểm luật mới có hiệu lực nhưng việc điều tra, truy tố, xét xử được tiến hành sau thời điểm đó.
3. Đề xuất cụ thể về bổ sung Điều 54 Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)
Đề nghị xem xét bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 54 theo hướng sau:
“Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.
Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn kế tiếp của điều luật khi người phạm tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt.
2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn kế tiếp của điều luật khi người phạm tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt và có một trong các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm r, t, u (* - tác giả) hoặc có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này hoặc đã bồi thường, khắc phục được từ ba phần tư mức thiệt hại, hậu quả xảy ra; trừ trường hợp phạm tội giết người, phạm tội khủng bố hoặc phạm tội khác (** - tác giả) mà Tòa án có thể quyết định áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội.
3. ..."./.
Tóm lại, việc bổ sung cơ chế quyết định hình phạt đối với người phạm tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt là cần thiết, phù hợp với định hướng đổi mới chính sách hình sự và tố tụng hình sự theo hướng phân hóa, khoan hồng, tinh gọn, hiệu quả. Tuy nhiên, đây là chế định mới có tác động trực tiếp đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và cơ chế kiểm soát quyền lực trong tố tụng hình sự; vì vậy cần tiếp tục được hoàn thiện thận trọng. Đồng thời, đề xuất cần xây dựng cơ chế theo nguyên tắc “tự nguyện thực chất - có căn cứ khách quan - khoan hồng có điều kiện - giới hạn rõ ràng - kiểm soát chặt chẽ - tố tụng và hình sự thống nhất”. Qua đó, vừa khuyến khích người phạm tội chủ động nhận trách nhiệm và khắc phục hậu quả, vừa bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đồng thời bảo đảm nguyên tắc xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
(*). r) người phạm tội tự thú; t) người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án; u) người phạm tội đã lập công chuộc tội.
(**). Tội phản bội Tổ quốc (Điều 108) và tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248).
Bài viết chưa có bình luận nào.