Về bảo vệ người yếu thế trong quan hệ hôn nhân và gia đình

14/09/2026 13:49

(kiemsat.vn)
Nghị quyết số 205/2025/QH15 của Quốc hội đã mở ra cơ chế pháp lý mới, khẳng định vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong khởi kiện vụ án dân sự nhằm bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể dễ bị tổn thương và lợi ích công. Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, việc phát huy hiệu quả vai trò này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần bảo vệ quyền con người; bảo đảm việc giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình khách quan, đúng pháp luật.

1. Những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật về bảo vệngười yếu thế trong các vụ việc hôn nhân và gia đình

- Về nội dung:

Một là, Luật hôn nhân và gia đình (HNGĐ) năm 2014 không thừa nhận hôn nhân đồng giới. Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam các cặp đôi đồng tính, song tính, chuyển giới chung sống với nhau khá nhiều. Điều này dẫn đến các vấn đề phát sinh từ hôn nhân đồng giới như tài sản, con chung, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái, quyền thừa kế khi một trong hai người chết… mà chưa có điều luật cụ thể điều chỉnh.

Hai là, Điều 88 Luật HNGĐ năm 2014 quy định: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân thì được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân”. Tuy nhiên, Điều 25 Luật hộ tịch năm 2014 quy định: “Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt”. Như vậy, các quy định trên còn mâu thuẫn với nhau. Luật HNGĐ năm 2014 sử dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý để thừa nhận con chung của vợ chồng nhưng Luật hộ tịch năm 2014 lại bắt buộc phải có “chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con”. Điều này dẫn đến việc xác định cha, mẹ, con giữa Tòa án và cơ quan hộ tịch không thống nhất và trong nhiều trường hợp ảnh hưởng đến quyền lợi của người con.

Ba là, khoản 2 Điều 51 Luật HNGĐ năm 2014 quy định: “Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ”.

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người mất năng lực hành vi dân sự (là người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức làm chủ được hành vi) (Điều 22), và trường hợp người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi là người thành niên do tình trạng thể chất, tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự (Điều 23). Như vậy, cha, mẹ, người thân thích khác của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có quyền nộp đơn khởi kiện để bảo vệ họ theo khoản 2 Điều 51 Luật HNGĐ năm 2014 hay không?

Ngoài ra, khi cha, mẹ, những người thân thích khác không còn hoặc vì lý do nào đó không thể đứng ra khởi kiện thì chủ thể nào có thể đứng ra khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ vì các chủ thể khác như cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em và Hội liên hiệp phụ nữ chỉ có quyền khởi kiện yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật theo Điều 10 Luật HNGĐ năm 2014.

Bốn là, khoản 1 Điều 116 Luật HNGĐ năm 2014 quy định: “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”. Có thể thấy, việc xác định mức cấp dưỡng còn phụ thuộc vào sự đánh giá của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Bên cạnh đó, mặc dù pháp luật đã quy định các hình thức xử lý hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng phần lớn là trách nhiệm hành chính và chưa thực sự nghiêm khắc.

Năm là, trường hợp Tòa án đã quyết định giao con cho một trong hai bên nuôi dưỡng, bên còn lại được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con. Tuy nhiên, do có mâu thuẫn mà hai bên không thể dàn xếp, bên được giao nuôi con đã thay đổi nơi cư trú (cố tình giấu địa chỉ) mà không thông báo cho bên còn lại, làm ảnh hưởng đến quyền thăm nom, chăm sóc con và quyền lợi của chính người con. Do pháp luật chưa quy định nghĩa vụ của bên nuôi con phải thông báo nơi cư trú của con chung nên chưa đưa vào thực tế làm căn cứ không phải chứng minh cho việc thay đổi trực tiếp người nuôi con.

Ngoài ra, số lượng các tranh chấp hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tăng lên đáng kể, trong đó có rất nhiều vụ việc đương sự ở nước ngoài nhưng không có địa chỉ hoặc giấu địa chỉ, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng trong xác minh, thu thập chứng cứ làm cho vụ án bị kéo dài, tốn kém về thời gian, công sức...

- Về tố tụng:

Một là, còn thiếu cơ chế cho Viện kiểm sát tiếp cận, nghiên cứu hồ sơ vụ việc dân sự ngay từ ban đầu. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (BLTTDS năm 2015) chưa quy định khi Tòa án nhận đơn khởi kiện phải thông báo cho Viện kiểm sát; quy định Tòa án gửi thông báo thụ lý vụ việc (Điều 196, Điều 365), văn bản trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu cho Viện kiểm sát (Điều 192, Điều 364), nhưng không quy định Tòa án phải gửi các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho Viện kiểm sát. Do đó, Viện kiểm sát không đủ cơ sở để kiểm sát việc thụ lý, trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của Tòa án có đúng quy định của pháp luật hay không.

Hai là, khoản 2 Điều 220 BLTTDS năm 2015 quy định Viện kiểm sát chỉ có 15 ngày để nghiên cứu hồ sơ (kể từ ngày nhận được hồ sơ). Thực tế cho thấy, thời gian nghiên cứu này là quá ngắn đối với những vụ án phức tạp, đặc biệt là liên quan đến chia tài sản chung vợ chồng.

Ba là, khoản 2 Điều 21 BLTTDS năm 2015 quy định: “Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này”. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 232 BLTTDS năm 2015 quy định về việc có mặt của Kiểm sát viên: “Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa; nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa”.

Như vậy, trong trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt dù có hay không có lý do chính đáng, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử mà không hoãn phiên tòa, điều này ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa của Viện kiểm sát, ảnh hưởng đến vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự; đồng thời khiến cho Viện kiểm sát không thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người yếu thế tại phiên tòa.

Bốn là, theo quy định của BLTTDS năm 2015 thì Viện kiểm sát có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời tài liệu, chứng cứ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc xác minh tại cơ quan quản lý nhà nước (như Ủy ban nhân dân, Văn phòng đăng ký đất đai, Phòng công chứng…) không đạt được kết quả thỏa đáng, công văn trả lời văn bản chậm hoặc không trả lời trực tiếp vào nội dung được yêu cầu... gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án.

2. Một số kiến nghị nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhóm người yếu thế trong quan hệ hôn nhân và gia đình

Một là, sửa đổi Điều 25 Luật hộ tịch theo hướng không yêu cầu chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con đối với con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân để phù hợp với quy định tại Điều 88 Luật HNGĐ năm 2014 và bảo vệ tối đa quyền lợi của người con.

Hai là, sửa đổi các điều luật trong BLTTDS năm 2015 liên quan đến quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát như: Tòa án phải gửi chứng cứ, tài liệu kèm theo thông báo thụ lý vụ việc, văn bản trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu cho Viện kiểm sát; nếu Kiểm sát viên vắng mặt có lý do chính đáng tại các phiên tòa (đặc biệt là các phiên tòa có đương sự là người yếu thế) thì phải hoãn phiên tòa. Đặc biệt, cần quy định chế tài đối với trường hợp các cơ quan liên quan không thực hiện hoặc thực hiện chậm, không đầy đủ yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc kiến nghị của Viện kiểm sát và tăng thời gian nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát lên 01 tháng (đối với các vụ việc phức tạp) để đảm bảo chất lượng nghiên cứu hồ sơ.

Ba là, bổ sung các quy định về tài sản, con chung, quyền thừa kế của những người đồng giới, song giới, chuyển giới khi họ kết hôn, ly hôn và cha, mẹ, người thân thích khác của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có quyền nộp đơn khởi kiện để bảo vệ họ khi giải quyết ly hôn. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, về trẻ em và Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Bốn là, cần quy định cụ thể mức cấp dưỡng và các chế tài nghiêm khắc hơn khi người phải cấp dưỡng trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng; bên nuôi dưỡng con phải có nghĩa vụ thông báo nơi cư trú của con chung để người không trực tiếp nuôi dưỡng thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Đồng thời, quy định việc không thông báo nơi cư trú của con chung là căn cứ không phải chứng minh cho việc thay đổi trực tiếp người nuôi con.

Dương Thị Thu Hòa - Nguyễn Trọng Huy

Nghiên cứu áp dụng thủ tục thoả thuận nhận tội trong giải quyết vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn mới

(Kiemsat.vn) - Trên cơ sở nghiên cứu các mô hình tố tụng hình sự điển hình, bài viết phân tích khái niệm, thẩm quyền, cũng như quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia thực hiện thủ tục thỏa thuận nhận tội; đồng thời đề xuất xây dựng mô hình phù hợp với đặc thù của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án hình sự trong bối cảnh mới.
(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang