Hoàn thiện bộ luật hình sự năm 2015 theo tinh thần Nghị quyết số 66/NQ-TW: Một số vấn đề kỹ thuật lập pháp của các quy phạm về các nguyên tắc của pháp luật hình sự và trách nhiệm hình sự

07/09/2026 13:53

(kiemsat.vn)
Trên cơ sở Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị “Về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” và nhằm hoàn thiện kỹ thuật lập pháp của Bộ luật Hình sự hiện hành, bài viết phân tích và đưa ra đề xuất về các quy phạm thuộc 02 chế định của pháp luật hình sự: (1) Các nguyên tắc của pháp luật hình sự; (2) Trách nhiệm hình sự.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị đã khẳng định các quan điểm đúng đắn về hoạt động lập pháp nói chung và lập pháp hình sự nói riêng. Nếu triển khai tốt và theo đúng tiến độ thì sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý (trong đó có khoa học Luật hình sự), chẳng hạn như: “Xác định xây dựng pháp luật là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, thường xuyên của các bộ, ngành trung ương; xây dựng pháp luật phải bám sát thực tiễn; “năm 2025, cơ bản hoàn thành tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định của pháp luật. Năm 2027, hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản pháp luật...”.

Bài viết này phân tích các quy phạm thuộc 02 chế định lớn được nghiên cứu trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và đưa ra một số đề xuất hoàn thiện.

II. NỘI DUNG VẤN ĐỀ

1. Đối với các quy phạm về những nguyên tắc của pháp luật hình sự

Mặc dù Việt Nam đã trải qua 03 lần pháp điển hóa 02 ngành luật thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự (TPHS) là pháp luật hình sự (PLHS) và pháp luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên, trong cả 03 BLHS năm 1985, năm 1999 và năm 2015 vẫn chưa có các quy phạm về những nguyên tắc của PLHS; trong khi Bộ luật Tố tụng hình sự có các quy phạm về những nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự.

2. Đối với các quy phạm có liên quan đến chế định lớn về trách nhiệm hình sự

Khi xem xét về kỹ thuật lập pháp các quy phạm này trong BLHS năm 2015 cho thấy vẫn một số điểm chưa hợp lý của Phần chung BLHS năm 1999 trước đây. Bởi lẽ:

2.1. Mặc dù trách nhiệm hình sự (TNHS) là một chế định lớn riêng biệt, chủ yếu và quan trọng nhất của cả Phần chung và Phần các tội phạm trong BLHS, bởi lẽ được coi là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt các quy phạm của bất kỳ BLHS nào. Tuy nhiên, trong BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (gọi tắt là BLHS năm 2015), các quy phạm này vẫn chưa được điều chỉnh bằng các quy phạm trong một phần (chương) riêng biệt với tư cách là 01 chế định lớn độc lập về TNHS. Cũng như BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 chưa có các quy phạm đề cập những định nghĩa pháp lý của các khái niệm quan trọng để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động áp dụng PLHS, đồng thời góp phần bảo vệ quyền con người bằng PLHS.

2.2. Hiện nay vẫn còn thiếu những định nghĩa pháp lý của các khái niệm liên quan đến TNHS trong BLHS năm 2015 hiện hành, đó là: Cơ sở của TNHS (vì phạm trù “Chỉ người nào... mới phải chịu TNHS” đã được ghi nhận tại Điều 2 BLHS năm 1999 và Điều 2 BLHS năm 2015 chính là điều kiện để một người phải chịu TNHS, chưa phải là cơ sở của TNHS); điều kiện của TNHS; có bao nhiêu điều kiện của TNHS; thời điểm bắt đầu của TNHS; thời điểm chấm dứt của TNHS; tuổi chịu TNHS; hình thức thực hiện TNHS; tình trạng không có năng lực TNHS; năng lực TNHS đầy đủ; năng lực TNHS hạn chế; chủ thể của TNHS...

2.3. Nếu như tên gọi là “cơ sở” của TNHS, thì nội dung của nó phải thể hiện được rằng cơ sở đó cụ thể là gì (cấu thành tội phạm, lỗi, hay là việc thực hiện hành vi bị PLHS cấm...) mà dựa vào đó các cơ quan tố tụng có thể truy cứu TNHS chủ thể phạm tội. Tuy nhiên, nội dung được quy định tại Điều 2 BLHS năm 2015 là điều kiện (mà không phải cơ sở) của TNHS vì việc sử dụng thuật ngữ “chỉ người nào... mới phải chịu...” là ngụ ý về “điều kiện” khi nào thì phải chịu TNHS. Mặt khác, 02 phạm trù “cơ sở” và “điều kiện” của TNHS tuy có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng không thể đồng nhất, bởi: “Cơ sở” là căn cứ chung (hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội được ghi nhận trong PLHS) mà phải dựa vào đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền mới có thể đặt ra vấn đề TNHS của chủ thể phạm tội; “điều kiện” là căn cứ riêng mà chỉ khi nào tổng hợp đầy đủ chúng (05 căn cứ riêng tương ứng với 05 dấu hiệu của tội phạm do PLHS quy định) thì chủ thể phạm tội mới phải chịu TNHS.

2.4. Thực tiễn áp dụng PLHS cho thấy, mặc dù có đặt ra vấn đề TNHS của một người nào đó đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị PLHS cấm, nhưng sau đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền xem xét lại tất cả các khía cạnh của vụ án hình sự thì cũng không thể buộc chủ thể của hành vi nào đó phải chịu TNHS nếu như căn cứ vào các quy định của PLHS mà thiếu 01 trong 05 điều kiện của TNHS có tính chất bắt buộc sau đây (mà 05 điều kiện này bao giờ cũng tương ứng với 05 dấu hiệu của tội phạm): (1) Hành vi được thực hiện trong thực tế khách quan phải nguy hiểm đáng kể cho xã hội; (2) Hành vi đó phải bị coi là tội phạm theo PLHS hiện hành (tức là phải được quy định trong PLHS đang được áp dụng); (3) Chủ thể của hành vi đó phải có lỗi (cố ý hoặc vô ý) khi thực hiện hành vi; (4) Chủ thể của hành vi đó phải có đủ năng lực TNHS khi thực hiện hành vi; (5) Chủ thể của hành vi đó (nếu là cá nhân) phải đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của PLHS hiện hành khi thực hiện hành vi. Đối với pháp nhân thương mại, nếu muốn buộc pháp nhân thương mại phải chịu TNHS cùng với chủ thể là cá nhân phạm tội, thì nhất thiết phải chứng minh được là pháp nhân đó có sự liên đới với chủ thể là cá nhân đã gây nên thiệt hại đáng kể do hành vi phạm tội tương ứng đã được thực hiện.

2.5. Như vậy, cách ghi nhận quy phạm tại Điều 2 BLHS năm 2015 cho thấy, tên gọi của TNHS (cơ sở của TNHS) chưa đầy đủ so với nội hàm (điều kiện của TNHS) khi nhà làm luật sử dụng cụm từ “chỉ người nào... mới phải chịu...” (khoản 1) và “chỉ pháp nhân thương mại nào... mới phải chịu...” (khoản 2). Mặc dù Điều 2 BLHS năm 2015 quy định những điều kiện của TNHS nhưng trong nội hàm chỉ có 02 điều kiện là (1) “Phạm tội” tức thực hiện hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội và (2) Tội (hành vi) đó đã “được BLHS quy định là tội phạm”, tức bị PLHS cấm. Quy phạm tại khoản 2 Điều 2 BLHS năm 2015 (nếu coi đó là “những điều kiện” của TNHS) thì vẫn còn thiếu 03 điều kiện nữa của TNHS (tương ứng với 03 đặc điểm của tội phạm) là người thực hiện hành vi đó có lỗi cố ý hoặc vô ý, có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS theo luật định.

3. Từ sự phân tích 02 chế định trên cho thấy, đây chính là những điểm cần được tiếp tục khắc phục để hoàn thiện PLHS hiện hành theo tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TW.

4. Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả đưa ra một số kiến nghị được xây dựng theo vấn đề cần hoàn thiện của pháp luật hình sự, cụ thể:

4.1. Về những nguyên tắc của PLHS

- Về nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa:

Theo nguyên tắc này, tính tội phạm của hành vi, cũng như tính phải bị xử lý về hình sự và các hậu quả pháp lý hình sự khác phải do BLHS quy định. Bất kỳ văn bản pháp luật nào có liên quan đến việc cụ thể hóa, giải thích hoặc/và hướng dẫn áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự đều không được trái với Bộ luật này và không được áp dụng pháp luật hình sự theo nguyên tắc tương tự.

Việc lợi dụng uy tín, chức vụ, quyền hạn trong tổ chức, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội hoặc/và cơ quan công quyền (sau đây gọi chung là đơn vị) để ban hành văn bản vi phạm Hiến pháp hoặc/và pháp luật mà vì lợi ích của cá nhân, lợi ích của nhóm người hoặc/và vì mục đích vụ lợi khác gây ra thiệt hại đáng kể cho Nhân dân, xã hội hoặc/và Nhà nước đến mức cấu thành tội phạm, thì căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả, có thể bị xử lý theo quy định tương ứng của Bộ luật này.

- Về nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật hình sự:

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật hình sự yêu cầu mọi chủ thể bị truy cứu TNHS đều bình đẳng trước pháp luật hình sự không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, địa vị xã hội và tình trạng tài sản của cá nhân người phạm tội, cũng như hình thức sở hữu của pháp nhân có liên đới trong việc phạm tội của cá nhân. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm công lý, củng cố niềm tin của xã hội vào pháp luật. Nguyên tắc này nhằm tránh sự thiên vị hoặc xử lý không thống nhất giữa các chủ thể có cùng hành vi phạm tội. Pháp luật hình sự bảo đảm sự bình đẳng về địa vị pháp lý, còn việc quyết định TNHS và hình phạt phải được cá thể hóa trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, vai trò của người phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS theo quy định của BLHS.

- Về nguyên tắc công minh:

Hình phạt, các biện pháp tư pháp hình sự và các chế định pháp lý hình sự khác được áp dụng đối với chủ thể phạm tội cần đảm bảo sự công minh, tức là phải phù hợp với tính chất và mức độ nghiêm trọng của hậu quả tội phạm đã xảy ra, động cơ và mục đích phạm tội, mức độ lỗi và các đặc điểm về nhân thân người phạm tội, cũng như ý thức chấp hành pháp luật của pháp nhân có sự liên đới với hành vi phạm tội của cá nhân. Việc đánh giá các đặc điểm về nhân thân phải toàn diện, khách quan nhằm đảm bảo sự công minh và sự phân hóa TNHS, theo đó chức vụ, quyền hạn, địa vị xã hội, điều kiện kinh tế, trình độ văn hóa, hoàn cảnh sống cùng các yếu tố phản ánh phẩm chất, nhân thân người phạm tội cần được xem xét trong phạm vi có liên quan đến việc đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, khả năng cải tạo, giáo dục và yêu cầu phòng ngừa tội phạm. Các đặc điểm về nhân thân người phạm tội phải là căn cứ chủ yếu và quan trọng hơn cả để phản ánh rõ ràng sự công minh và dứt khoát, tính nhân văn và ranh giới xử lý hình sự. Ngoài ra, không một người phạm tội nào hoặc một pháp nhân có sự liên đới với hành vi phạm tội của cá nhân nào có thể phải chịu trách nhiệm hai lần về cùng một tội phạm.

- Về nguyên tắc nhân đạo:

Nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật hình sự đòi hỏi việc áp dụng hình phạt, các biện pháp tư pháp hình sự và các chế định pháp lý hình sự khác phải tôn trọng, bảo vệ quyền con người, không nhằm gây đau đớn về thể xác, hạ thấp nhân phẩm con người hoặc cản trở trái pháp luật hoạt động hợp pháp của pháp nhân. Cần xem xét giảm nhẹ TNHS đối với: Cá nhân là người chưa thành niên, nhân tài của Tổ quốc, phụ nữ đang có thai hoặc đang nuôi con nhỏ, người mà năng lực trách nhiệm hình sự bị hạn chế, người đã quá già yếu, người đang mắc bệnh hiểm nghèo, người bị cố tật nặng hoặc đặc biệt nặng mà không phải do mình tự gây ra. Đối với pháp nhân, việc xem xét áp dụng chính sách hình sự nhân đạo được thực hiện trên cơ sở quá trình chấp hành pháp luật, mức độ khắc phục hậu quả, đóng góp cho cộng đồng và các tình tiết có ý nghĩa trong việc đánh giá khả năng sửa chữa, khắc phục vi phạm.

Nghiêm cấm việc đặt ra hoặc lợi dụng các khoản đóng góp hoặc/và cung ứng dịch vụ trá hình nào trong các lĩnh vực của đời sống xã hội trái quy định của pháp luật, trái đạo đức xã hội nhằm mục đích vụ lợi hoặc thu lợi bất chính, mang tính lợi ích nhóm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến quyền, lợi ích cá nhân, tổ chức. Hành vi có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì có thể bị xem xét truy cứu TNHS theo các quy định tương ứng của BLHS.

- Về nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm:

Mọi chủ thể thực hiện hành vi phạm tội hoặc bị kết án đều phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS. Đồng thời, nghiêm cấm mọi hành vi sử dụng bất kỳ thủ đoạn, phương tiện,

công cụ hoặc hình thức trái pháp luật nào nhằm trốn tránh hoặc cản trở việc truy cứu TNHS. Việc vi phạm một trong các nguyên tắc của PLHS được quy định trong Bộ luật này đã đến mức cấu thành tội phạm đều không thể tránh khỏi TNHS theo luật định.

- Về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của cá nhân:

Trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra đối với cá nhân nào có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện tội phạm theo quy định của Bộ luật này. Không một cá nhân phạm tội nào phải chịu TNHS đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội (bằng hành động hoặc không hành động), cũng như về việc gây nên thiệt hại được quy định trong Bộ luật này mà không phải do lỗi của mình.

- Về nguyên tắc trách nhiệm do sự liên đới của pháp nhân “với hành vi phạm tội do cá nhân thực hiện”:

Pháp nhân nào có sự liên đới trong việc để cho người của mình với đầy đủ những điều kiện được quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình. Bất kỳ pháp nhân nào vì lợi ích nhóm mà có sự liên đới hoặc móc ngoặc với cá nhân trong bộ máy công quyền nhằm mua chuộc, hối lộ hoặc/và vì mục đích vụ lợi mà gây ra thiệt hại đáng kể cho quyền lợi của Nhân dân, xã hội hoặc/và Nhà nước thì đều phải bị xử lý hình sự theo quy định tương ứng của Bộ luật này.

Pháp nhân không phải chịu TNHS về hành vi nguy hiểm cho xã hội (bằng hành động hoặc không hành động), cũng như về thiệt hại gây nên nếu hành vi phạm tội xảy ra hoàn toàn không có sự liên đới nào của pháp nhân đó với người phạm tội.

4.2. Về trách nhiệm hình sự

- Về khái niệm TNHS và các chủ thể phải chịu TNHS:

Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc bị buộc tội trong việc thực hiện hành vi phạm tội và được thể hiện trong bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bằng việc áp dụng đối với chủ thể bị kết án biện pháp cưỡng chế hình sự do BLHS quy định.

Các chủ thể phải chịu TNHS theo Bộ luật này bao gồm: Người có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện tội phạm do Bộ luật này quy định; pháp nhân do đã có sự liên đới trong việc để cho người (cá nhân) thực hiện tội phạm nhân danh mình, vì lợi ích của mình và với sự chỉ đạo hoặc chấp thuận của mình.

- Về cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự:

Hướng thứ nhất (ghi nhận cơ sở của TNHS về mặt hình thức và chỉ có 01 phương án duy nhất): Cơ sở của TNHS là căn cứ chung cần và đủ, có tính bắt buộc và do Bộ luật này quy định mà chỉ dựa vào đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền mới có thể đặt ra vấn đề TNHS của người phạm tội.

Hướng thứ hai (ghi nhận cơ sở của TNHS về mặt nội dung và có thể lựa chọn 01 trong 03 phương án dưới đây):

Phương án 1 (không viện dẫn): Cơ sở của TNHS là việc thực hiện tội phạm được quy định trong Bộ luật này.

Phương án 2 (có viện dẫn nhưng chỉ chung chung về Phần riêng BLHS): Cơ sở của TNHS là việc thực hiện hành vi có chứa đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể được quy định tại điều tương ứng trong Phần riêng Bộ luật này.

Phương án 3 (có viện dẫn cả Phần chung và Phần riêng BLHS nhưng không chỉ rõ điều khoản cụ thể nào): Cơ sở của TNHS theo Bộ luật này là việc thực hiện hành vi tội phạm chưa hoàn thành (chuẩn bị phạm tội hoặc/và phạm tội chưa đạt) được quy định trong Phần chung, cũng như hành vi tội phạm hoàn thành được quy định trong Phần riêng.

Hướng thứ ba (là hướng trung hòa khi có sự kết hợp cả 02 hướng ghi nhận thứ nhất và thứ hai) và đây có thể coi là hướng có kỹ thuật lập pháp khả thi hơn cả về mặt khoa học: Cơ sở của TNHS là việc thực hiện hành vi có chứa đầy đủ tất cả các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng được quy định trong Bộ luật này với tư cách là căn cứ cần và đủ; có tính bắt buộc để truy cứu TNHS người phạm tội.

Hướng thứ nhất (ghi nhận những điều kiện chịu TNHS về mặt hình thức với 02 phương án):

Phương án 1 (không đề cập đến các dấu hiệu của tội phạm): Những điều kiện TNHS là các căn cứ riêng cần và đủ, có tính bắt buộc và được quy định trong Bộ luật này mà chỉ khi nào có tổng hợp đầy đủ chúng thì cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền mới được quy TNHS cho người phạm tội.

Phương án 2 (về cơ bản như phương án 1 nhưng bổ sung thêm mệnh đề “tương ứng với các dấu hiệu của tội phạm”: Những điều kiện TNHS là các căn cứ riêng cần và đủ, có tính bắt buộc và tương ứng với các dấu hiệu của tội phạm được quy định trong Bộ luật này mà chỉ khi nào có tổng hợp đầy đủ chúng thì cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền mới được quy TNHS cho người phạm tội.

Hướng thứ hai (ghi nhận đầy đủ tất cả những điều kiện của TNHS về mặt nội dung và có thể lựa chọn 01 trong 02 phương án dưới đây):

Phương án 1 (chỉ ra cụ thể 05 điều kiện TNHS của cá nhân tương ứng với chính 05 dấu hiệu của tội phạm được quy định trong BLHS mà cá nhân đã thực hiện): Những điều kiện chịu TNHS của cá nhân phạm tội là người đó phải có lỗi (cố ý hoặc vô ý), có đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS khi thực hiện (bằng hành động hoặc không hành động) hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội có đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm được quy định trong Bộ luật này.

Phương án 2 (chỉ ghi nhận chung chung): Cá nhân chỉ phải chịu TNHS khi thực hiện hành vi phạm tội với tổng hợp tất cả những điều kiện cần và đủ, có tính bắt buộc và do Bộ luật này quy định.

Pháp nhân chỉ phải chịu TNHS khi có đầy đủ những điều kiện sau đây: a) Có đầy đủ các dấu hiệu của pháp nhân thương mại theo quy định của Bộ luật Dân sự; b) Đã có sự liên đới khi để cho cá nhân có đủ những điều kiện được nêu tại khoản 2 trên nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân và với sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thực hiện 01 hoặc nhiều tội phạm được quy định tại Điều 151 BLHS.

- Về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của các chủ thể phạm tội:

Cá nhân phạm tội riêng biệt chỉ phải chịu TNHS khi hội đủ những điều kiện của TNHS được nêu tại BLHS. Cá nhân phạm tội phải chịu TNHS cùng với pháp nhân khi ngoài việc hội đủ những điều kiện của TNHS được nêu tại BLHS, còn phải có đủ 04 điều kiện sau đây:

a) Đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành 01 trong các tội phạm được quy định tại Điều... Bộ luật này (tức là Điều luật ghi nhận các tội phạm mà pháp nhân phải chịu TNHS như Điều 76 BLHS năm 2015); b) Tội phạm đó đã được thực hiện nhân danh pháp nhân (trên cơ sở sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 75 BLHS năm 2015); c) Tội phạm đó đã được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân (trên cơ sở sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 75 BLHS năm 2015); d) Tội phạm đó đã được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân (trên cơ sở sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 75 BLHS năm 2015.

Pháp nhân phải liên đới chịu TNHS cùng với cá nhân phạm tội trong trường hợp hội đủ những điều kiện đã nêu trên.

- Về thời điểm bắt đầu và thời điểm chấm dứt của việc thực hiện trách nhiệm hình sự:

Trách nhiệm hình sự được bắt đầu thực hiện kể từ thời điểm Tòa án tuyên bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với chủ thể bị kết án và được chấm dứt (kết thúc) kể từ thời điểm chủ thể đó được xóa án tích theo quy định của Bộ luật này.

- Về khái niệm và các hình thức thực hiện trách nhiệm hình sự:

Hình thức thực hiện TNHS là việc thể hiện nội dung của nó trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Các hình thức thực hiện TNHS trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo quy định của BLHS bao gồm: a) Khi nội dung TNHS được thể hiện bằng việc chủ thể bị kết án bị Tòa án áp dụng hình phạt nhất định và có (hoặc không) kèm theo biện pháp tư pháp hình sự nhất định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật; b) Khi nội dung TNHS được thể hiện bằng việc chủ thể bị kết án được Toà án miễn hình phạt nhưng vẫn bị áp dụng biện pháp tư pháp hình sự nhất định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.

- Về năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ

Phương án 1: Năng lực TNHS đầy đủ là trạng thái bình thường của cá nhân trong thời gian tội phạm do Bộ luật này quy định hoàn toàn nhận thức được tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện và hoàn toàn điều khiển được hành vi đó.

Phương án 2: Năng lực TNHS đầy đủ là trạng thái bình thường của người phạm tội khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm có khả năng nhận thức được đầy đủ và điều khiển được đầy đủ hành vi đó.

- Về năng lực trách nhiệm hình sự hạn chế :

Phương án 1: Năng lực TNHS hạn chế là trạng thái bệnh lý tâm thần hoặc một bệnh lý khác làm cho người trong thời gian phạm tội do Bộ luật này quy định nhận thức không được đầy đủ tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện hoặc không hoàn toàn điều khiển được hành vi đó.

Phương án 2: Năng lực TNHS hạn chế là trạng thái bệnh lý tâm thần hoặc một bệnh lý khác làm cho người phạm tội khi thực hiện hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội bị Luật hình sự cấm bị mất đi một phần khả năng nhận thức hoặc một phần khả năng điều khiển hành vi đó.

Phương án 3: Năng lực TNHS hạn chế là trạng thái không bình thường của người phạm tội khi thực hiện hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội được quy định trong Bộ luật này đã nhận thức không được đầy đủ hoặc không hoàn toàn điều khiển được hành vi đó.

- Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự và người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

Tuổi chịu TNHS của một người là tuổi được quy định tại các khoản 2-3 Điều 60 BLHS và được tính tại thời điểm người đó thực hiện tội phạm. Người đủ tuổi chịu TNHS là người mà tại thời điểm phạm tội đã đạt đến độ tuổi được quy định trong Bộ luật này để có thể có khả năng nhận thức được hoàn toàn tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện, đồng thời hoàn toàn điều khiển được hành vi đó. Trong bất kỳ trường hợp nào, tất cả những người trong độ tuổi dưới 14 tuổi và trên một độ tuổi nhất định đều không phải chịu TNHS (nhà làm luật nghiên cứu độ tuổi tối đa phải chịu TNHS là 80, 85 hay 90 cho phù hợp).

Lê Cảm - Phạm Việt Nghĩa

Hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền truy tố trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam giai đoạn hiện nay

(Kiemsat.vn) - Bài viết phân tích kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trong việc vận dụng nguyên tắc bắt buộc truy tố và tùy nghi truy tố trong tố tụng hình sự hiện đại, trên cơ sở đó, đề xuất nghiên cứu bổ sung cơ chế miễn truy tố có điều kiện với phạm vi áp dụng giới hạn, tiêu chí chặt chẽ, nghĩa vụ pháp lý cụ thể và cơ chế kiểm soát hiệu quả đối với Việt Nam.
(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang