Nguyên tắc bắt buộc truy tố được tôn trọng, áp dụng rộng rãi và có truyền thống lâu đời tại các quốc gia châu Âu lục địa; đồng thời, nguyên tắc này cũng có tầm ảnh hưởng lớn ở các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, trong những thập niên gần đây, việc thực thi nguyên tắc này tại các quốc gia nói trên đã có sự chuyển biến, với nhiều nghiên cứu phản ánh sự thay đổi đó thông qua việc đưa ra các quan điểm đa dạng về sự cần thiết phải thay đổi, điều chỉnh hoặc duy trì nguyên tắc này[1]. Ở Việt Nam, yêu cầu nghiên cứu vấn đề này trở nên cấp thiết trong bối cảnh tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế tư pháp, đề cao tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, đồng thời đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật theo hướng dân chủ, công bằng, công khai, minh bạch, khả thi, lấy hiệu quả thực thi và lợi ích phát triển làm trung tâm theo Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
1. Nguyên tắc bắt buộc truy tố, tùy nghi truy tố
Điểm khác biệt căn bản giữa nguyên tắc truy tố bắt buộc và nguyên tắc tùy nghi truy tố ở chỗ trao cho Cơ quan công tố/Viện kiểm sát quyền cân nhắc, quyết định việc truy tố hay không. Sự hình thành của hai nguyên tắc này gắn liền với nhận thức về mục đích của hình phạt. Trước thập niên 1920, học thuyết trừng phạt (restributive punishment) do trường phái hình sự cổ điển đề xướng giữ vai trò chi phối. Theo học thuyết này, hình phạt phải tuân theo nguyên tắc chắc chắn và tất yếu, nói cách khác, hình phạt là hệ quả tất yếu của hành vi phạm tội. Dưới ảnh hưởng của quan điểm đó, hoạt động truy tố phải tuân thủ nguyên tắc bắt buộc: Đã có tội phạm thì phải truy tố, đã phạm tội thì phải bị trừng phạt[2]. Vì vậy, khi có đủ điều kiện truy tố, Cơ quan công tố bắt buộc phải truy tố và không có quyền tùy nghi quyết định.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, học thuyết của trường phái hình sự cổ điển bộc lộ sự hạn chế. Quan điểm coi hình phạt chủ yếu là hệ quả tất yếu được thay thế bằng quan điểm coi hình phạt là phương tiện hướng tới những mục đích xã hội nhất định của trường phái xã hội học hình sự. Theo đó, bên cạnh chức năng trừng trị, hình phạt còn có chức năng giáo dục và phòng ngừa[3]. Trên cơ sở đó, nguyên tắc tùy nghi truy tố trong luật tố tụng hình sự ra đời, ngày càng được quan tâm và được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia. Cơ quan công tố có quyền cân nhắc trong việc quyết định có truy tố hay không. Theo đó, nguyên tắc tùy nghi truy tố cho phép chấm dứt một vụ án đang được giải quyết bằng quyết định không truy tố trong những trường hợp nhất định. Cơ chế này “góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự, tiết kiệm nguồn lực tư pháp vốn luôn có giới hạn, giảm tải cho hệ thống tòa án, đồng thời tạo điều kiện để các cơ quan tiến hành tố tụng tập trung xử lý những vụ án nghiêm trọng, phức tạp hoặc có mức độ nguy hiểm cao hơn cho xã hội”[4]. Trong bối cảnh số lượng vụ án hình sự ngày càng gia tăng, nếu mọi hành vi có dấu hiệu tội phạm đều phải được truy tố một cách tuyệt đối, không có sự phân hóa hợp lý, thì “hệ thống tư pháp hình sự dễ rơi vào tình trạng quá tải, kéo dài thời gian giải quyết vụ án và làm suy giảm hiệu quả bảo vệ công lý”[5].
Bên cạnh đó, việc không truy tố trong những trường hợp người phạm tội có nhân thân tốt, hành vi ít nghiêm trọng, hậu quả đã được khắc phục, người bị hại không yêu cầu xử lý hình sự hoặc việc truy tố không còn cần thiết đối với lợi ích công cộng có thể “tạo cơ hội cho người vi phạm sớm tái hòa nhập xã hội”[6]. Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng hiện đại của tư pháp hình sự, trong đó hình phạt không luôn là phương tiện duy nhất để đạt được mục tiêu phòng ngừa tội phạm và khôi phục trật tự pháp luật. Mặt khác, nguyên tắc này còn góp phần bảo đảm công bằng trong tố tụng hình sự theo nghĩa thực chất. Công bằng không chỉ được hiểu là mọi hành vi phạm tội đều phải bị xử lý, mà việc xử lý phải tương xứng, hợp lý và cần thiết trong từng hoàn cảnh cụ thể. Bởi lẽ, “công lý bị trì hoãn là công lý bị chối bỏ”[7]; việc giúp người bị buộc tội sớm thoát khỏi tình trạng bị kéo dài quá trình tố tụng, nhất là trong những trường hợp việc truy tố không còn thật sự cần thiết, tự thân nó cũng là một cách hiện thực hóa công lý trong vụ án.
Tuy nhiên, nguyên tắc tùy nghi truy tố không hoàn toàn thay thế nguyên tắc bắt buộc truy tố. Nguyên nhân chủ yếu là việc thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội cũng vẫn là phương thức để Nhà nước khôi phục quyền uy của pháp luật, bảo vệ trật tự công cộng và duy trì niềm tin xã hội vào công lý. Truy tố là tiền đề cần thiết để Nhà nước thực hiện thông qua hoạt động xét xử của Tòa án. Nếu quyền quyết định truy tố hay không truy tố được trao quá rộng mà thiếu cơ chế kiểm soát hữu hiệu, nguy cơ tùy tiện, thiếu minh bạch hoặc lạm quyền trong hoạt động công tố có thể phát sinh. Bên cạnh đó, nguyên tắc này bảo đảm rằng mọi hành vi phạm tội khi đã có đủ căn cứ pháp lý đều phải được xem xét xử lý theo trình tự tố tụng hình sự. Đồng thời, nguyên tắc truy tố bắt buộc còn góp phần bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật, bảo vệ yêu cầu bình đẳng giữa các chủ thể trước pháp luật và củng cố niềm tin của xã hội vào tính nghiêm minh của hệ thống tư pháp hình sự[8].
Nhìn chung, các nước theo truyền thống luật thành văn (Civil law) thường ghi nhận nguyên tắc bắt buộc truy tố là nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự. Chẳng hạn, Điều 152 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) Liên bang Đức quy định: Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, khi có đủ căn cứ về mặt sự kiện, Viện công tố có nghĩa vụ tiến hành tố tụng đối với mọi hành vi phạm tội có thể bị truy tố”[9]. Tại Ý, nguyên tắc này còn được thừa nhận ở cấp độ hiến định. Cụ thể, Điều 112 Hiến pháp Ý quy định: “Công tố viên có nghĩa vụ truy tố trong tố tụng hình sự”[10]. Ở Tây Ban Nha, khoản 1 Điều 105 Luật tố tụng hình sự quy định: “Công tố viên có nghĩa vụ khởi xướng các thủ tục tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật, trừ các trường hợp pháp luật dành riêng cho tư tố”[11].
Trong khi đó, ở các nước theo truyền thống thông luật (Common law), pháp luật không thiết lập nguyên tắc bắt buộc truy tố theo nghĩa chặt chẽ như ở nhiều nước Civil law. Chẳng hạn, tại Hoa Kỳ, Công tố viên nhân danh Nhà nước truy tố ra tòa những vụ án đáp ứng đủ điều kiện truy tố. Tuy nhiên, Công tố viên Hoa Kỳ lại có quyền tùy nghi rất rộng. Họ không chỉ có thể quyết định truy tố nghi phạm nào trong trường hợp có nhiều nghi phạm, mà còn có thể lựa chọn tội danh truy tố khi một nghi phạm thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau. Ngoài ra, họ còn có quyền truy tố ở mức độ nhẹ hơn, rút truy tố hoặc từ chối truy tố, chẳng hạn trong thủ tục thỏa thuận nhận tội[12]. Cách tiếp cận tương tự cũng có thể thấy ở Anh và xứ Wales. Theo Luật về Công tố viên Hoàng gia (Code for Crown Prosecutors), Công tố viên chỉ khởi tố hoặc tiếp tục truy tố khi vụ án đáp ứng hai điều kiện: (i) Có đủ chứng cứ để tạo ra triển vọng kết tội thực tế và (ii) Việc truy tố là cần thiết vì lợi ích công cộng[13]. Như vậy, dù yếu tố chứng cứ là điều kiện bắt buộc, việc có truy tố hay không vẫn phụ thuộc đáng kể vào đánh giá tùy nghi của Công tố viên về lợi ích công cộng.
Trung Quốc cũng đã ghi nhận nhất định đối với cơ chế miễn truy tố trong tố tụng hình sự. Theo quy định của BLTTHS Trung Quốc, nếu sự thật vụ án đã được xác định rõ, chứng cứ xác thực, đầy đủ và người bị buộc tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật, thì Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) phải ra quyết định truy tố. Tuy nhiên, BLTTHS Trung Quốc cũng ghi nhận một số trường hợp không truy tố. Theo Điều 177 BLTTHS Trung Quốc, “đối với người phạm tội có tình tiết phạm tội ít nghiêm trọng, không cần áp dụng hình phạt hoặc được miễn hình phạt theo BLHS Trung Quốc, VKSND có thể quyết định không truy tố”[14]. Các trường hợp có thể được xem xét không truy tố tùy nghi khá đa dạng, như người bị tình nghi phạm tội ở ngoài lãnh thổ Trung Quốc nhưng đã bị xử phạt ở nước ngoài; người bị tình nghi là người điếc, người câm hoặc người mù; hành vi gây thiệt hại không đáng kể do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; hành vi mới dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội; người phạm tội tự ý chấm dứt việc phạm tội hoặc đã tự nguyện ngăn chặn có hiệu quả hậu quả xảy ra; người phạm tội chỉ giữ vai trò thứ yếu trong vụ án đồng phạm; người tham gia phạm tội do bị cưỡng ép; người phạm tội tự thú, lập công hoặc có công chuộc tội[15]. Trong các trường hợp này, pháp luật không bắt buộc Viện kiểm sát phải truy tố, mà cho phép Cơ quan công tố cân nhắc liệu việc truy tố có còn thật sự cần thiết hay không.
Ngoài ra, BLTTHS Trung Quốc còn quy định trường hợp không truy tố do chứng cứ không đầy đủ, hay còn gọi là không truy tố do còn nghi ngờ. Theo Điều 175 BLTTHS Trung Quốc thì nếu vụ án đã được điều tra bổ sung lần thứ hai mà VKSND vẫn cho rằng chứng cứ chưa đầy đủ, chưa đáp ứng điều kiện truy tố, thì Viện kiểm sát phải ra quyết định không truy tố.
Một điểm nổi bật khác trong pháp luật Trung Quốc là cơ chế miễn truy tố có điều kiện. Hiện nay, cơ chế này chủ yếu được áp dụng đối với người chưa thành niên. Theo đó, đối với người chưa thành niên phạm một số tội thuộc nhóm xâm phạm quyền nhân thân, quyền dân chủ, quyền tài sản của công dân hoặc xâm phạm trật tự quản lý xã hội, nếu tội phạm có thể bị xử phạt đến 01 năm tù có thời hạn, vụ án đã đủ điều kiện truy tố nhưng người phạm tội thể hiện sự ăn năn, hối cải, thì VKSND có thể ra quyết định không truy tố có điều kiện[16].
Đặc biệt, Trung Quốc còn bổ sung cơ chế không truy tố trong trường hợp đặc biệt theo sự phê chuẩn của VKSND tối cao. Theo Điều 182 BLTTHS Trung Quốc, nếu người bị tình nghi tự nguyện khai nhận sự thật về hành vi phạm tội, có công lớn hoặc vụ án liên quan đến lợi ích trọng đại của Nhà nước, thì sau khi được VKSND tối cao phê chuẩn, Cơ quan công an có thể hủy bỏ vụ án; VKSND cũng có thể quyết định không truy tố hoặc không truy tố đối với một hoặc một số tội danh. Đây là một cơ chế đặc biệt, thể hiện sự kết hợp giữa yêu cầu xử lý tội phạm và yêu cầu bảo vệ lợi ích lớn hơn của Nhà nước trong những vụ án nhất định.
2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền truy tố của Viện kiểm sát và một số gợi mở
- Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền truy tố của Viện kiểm sát:
Nền tảng chủ đạo của tố tụng hình sự Việt Nam vẫn là nguyên tắc trách nhiệm khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử khi có dấu hiệu tội phạm; đồng thời, hoạt động công tố phải bảo đảm yêu cầu không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Do vậy, nguyên tắc truy tố áp dụng tại Việt Nam về cơ bản là bắt buộc truy tố[17].
Điều 240 BLTTHS sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) quy định: Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, trong thời hạn luật định, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định: Truy tố bị can trước Tòa án; trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can.
Điều 245 BLTTHS năm 2015 cho thấy Viện kiểm sát có quyền kiểm soát chất lượng buộc tội trước khi quyết định truy tố. Theo đó, Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi còn thiếu chứng cứ để chứng minh những vấn đề phải chứng minh trong vụ án; khi có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác; khi có đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa bị khởi tố; hoặc khi có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Đặc biệt, Điều 248 BLTTHS năm 2015 quy định Viện kiểm sát quyết định không truy tố và đình chỉ vụ án khi có căn cứ theo khoản 2 Điều 155; Điều 157 BLTTHS năm 2015 hoặc Điều 16; Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, bản chất của Điều 248 BLTTHS năm 2015 vẫn là không truy tố do có căn cứ đình chỉ hoặc miễn trách nhiệm hình sự (TNHS), mà không phải không truy tố vì Viện kiểm sát cân nhắc lợi ích công theo nghĩa rộng.
Bên cạnh đó, Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2026 đã tạo bước chuyển hướng rõ nét hơn trong xử lý hình sự đối với người chưa thành niên. Đây là bước tiến đáng kể vì các tiêu chí như khả năng giáo dục, phục hồi, sự an toàn của bị hại và cộng đồng đã bắt đầu tiệm cận với tư duy đánh giá lợi ích công cộng của việc tiếp tục hay không tiếp tục xử lý hình sự theo thủ tục thông thường. Cơ chế xem xét xử lý chuyển hướng cũng thể hiện vai trò của Viện kiểm sát. Trong thời hạn luật định sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phải căn cứ vào các điều kiện luật định để ra thông báo áp dụng hoặc không áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng. Đáng chú ý, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng có thể bị khiếu nại, kiến nghị trong các trường hợp luật định; đồng thời phải được giao, gửi cho người chưa thành niên, người đại diện, Viện kiểm sát, bị hại và các chủ thể liên quan.
Từ những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền truy tố của Viện kiểm sát, có thể đưa ra một số nhận định sau:
Một là, pháp luật chưa ghi nhận các nguyên tắc, chế định tạo sự mềm dẻo, linh hoạt cho Viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng buộc tội[18] như tùy nghi truy tố, miễn truy tố có điều kiện... Nếu hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người phạm tội không thuộc trường hợp miễn TNHS và không phải là người chưa thành niên thuộc diện chuyển hướng thì Viện kiểm sát chưa có cơ sở pháp lý để quyết định không truy tố chỉ vì xét thấy việc truy tố không còn cần thiết, không tương xứng hoặc không phục vụ lợi ích công cộng.
Hai là, tiêu chí đánh giá tính cần thiết của truy tố chưa được hệ thống hóa thành chuẩn mực pháp lý chung. Pháp luật chưa xây dựng một bộ tiêu chí tương tự như “triển vọng kết tội” và “lợi ích công cộng” trong nhiều hệ thống pháp luật. Các yếu tố như tính ít nghiêm trọng của hành vi, phạm tội lần đầu, thiệt hại nhỏ, đã bồi thường toàn bộ, bị hại đồng thuận, người phạm tội có thái độ hợp tác, nguy cơ tái phạm thấp, chi phí tố tụng lớn hơn lợi ích đạt được hoặc có biện pháp xử lý thay thế hiệu quả hơn vẫn chưa được quy định như những tiêu chí độc lập để Viện kiểm sát cân nhắc không truy tố.
Ba là, quyền của người bị buộc tội và bị hại trong các quyết định không truy tố, đình chỉ hoặc chuyển hướng chưa được bảo đảm đồng đều ở mọi trường hợp. Đối với người bị buộc tội, cần phân biệt giữa đình chỉ vì không có tội và đình chỉ vì được miễn trách nhiệm hình sự. Đình chỉ vì miễn TNHS có thể hàm ý rằng người đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn truy cứu; do đó, nếu người bị buộc tội cho rằng mình vô tội, họ cần có quyền yêu cầu tiếp tục làm rõ để được minh oan. Đối với bị hại, việc không truy tố hoặc chuyển hướng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền yêu cầu công lý, quyền được bồi thường, quyền được bảo vệ và quyền tham gia tố tụng. Vì vậy, bất kỳ cơ chế tùy nghi truy tố nào trong tương lai cũng phải bảo đảm bị hại được thông báo, được trình bày ý kiến, được yêu cầu bồi thường và được khiếu nại hoặc yêu cầu rà soát khi không đồng ý.
- Một số gợi mở hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam:
Trong giai đoạn hiện nay, việc hoàn thiện quy định về truy tố không chỉ nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh, mà còn phải bảo đảm tính hợp lý, tương xứng và cần thiết của việc đưa vụ án ra xét xử. Truy tố là giai đoạn thể hiện tập trung quyền công tố của Nhà nước, vì vậy, pháp luật về truy tố cần được hoàn thiện theo hướng vừa bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; vừa tạo cơ sở pháp lý cho việc phân hóa xử lý hình sự, sử dụng hợp lý nguồn lực tư pháp và bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, bị hại và lợi ích công cộng. Theo đó, không phải trong mọi trường hợp có dấu hiệu tội phạm và có căn cứ buộc tội thì việc truy tố ra Tòa án đều là phương án tối ưu. Đối với một số vụ án ít nghiêm trọng, thiệt hại không lớn, hậu quả đã được khắc phục, người phạm tội lần đầu, có thái độ hợp tác, bị hại đồng thuận và việc xử lý ngoài Tòa án vẫn bảo đảm yêu cầu phòng ngừa, giáo dục, thì việc tiếp tục truy tố có thể không còn thật sự cần thiết. Cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp là đề cao công lý thực chất, bảo đảm tính nhân đạo của pháp luật hình sự, đồng thời giảm tải cho hệ thống tư pháp hình sự. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy quyền tùy nghi truy tố là quyền lựa chọn chính sách truy tố trong khuôn khổ luật định. Dù thuộc truyền thống Common law hay Civil law, các nước đều có xu hướng thừa nhận ở mức độ nhất định cơ chế không truy tố, miễn truy tố có điều kiện đối với những vụ việc mà việc đưa ra xét xử không còn cần thiết vì lợi ích công cộng.
Trên cơ sở đó, Việt Nam có thể nghiên cứu ghi nhận cơ chế miễn truy tố có điều kiện. Đây là phương thức phân hóa xử lý hình sự, cho phép Cơ quan công tố lựa chọn giải pháp ít nghiêm khắc hơn truy tố ra Tòa án trong những trường hợp thật sự không cần thiết phải xét xử, nhưng vẫn bảo đảm người thực hiện hành vi phải khắc phục hậu quả và chịu những nghĩa vụ pháp lý nhất định. Vì vậy, miễn truy tố có điều kiện cần được thiết kế như một quyết định tố tụng có căn cứ, có điều kiện, có kiểm soát và có thể bị xem xét lại.
Về mặt kỹ thuật lập pháp, BLTTHS năm 2015 có thể bổ sung quy định riêng về quyết định miễn truy tố có điều kiện trong Chương về quyết định việc truy tố của Viện kiểm sát. Việc áp dụng “chỉ nên giới hạn trong một số loại tội hoặc một số đối tượng nhất định”[19], theo tác giả, chỉ nên áp dụng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, một số tội phạm nghiêm trọng do vô ý, vụ án có thiệt hại không lớn, hậu quả đã được khắc phục cơ bản, người bị buộc tội phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, thành khẩn, hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng và việc không truy tố không trái với lợi ích công cộng. Không nên áp dụng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tội phạm tham nhũng nghiêm trọng, tội phạm có tổ chức, tội phạm bạo lực nghiêm trọng, tội phạm xâm hại tình dục, tội phạm đối với người dưới 18 tuổi với tư cách là nạn nhân, tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia hoặc những vụ án gây ảnh hưởng lớn đến trật tự, an toàn xã hội.
Một yêu cầu quan trọng khác là bảo đảm quyền của những người tham gia tố tụng. Người bị buộc tội phải được thông báo đầy đủ về căn cứ áp dụng, hậu quả pháp lý và nghĩa vụ kèm theo; được trình bày ý kiến, có người bào chữa, được từ chối áp dụng cơ chế này nếu cho rằng mình vô tội và có quyền yêu cầu vụ án được giải quyết theo thủ tục thông thường. Đồng thời, cần bảo đảm vị trí tố tụng của người bị hại. Họ phải được thông báo khi Viện kiểm sát xem xét miễn truy tố có điều kiện; được trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ, yêu cầu bồi thường, đề nghị áp dụng hoặc không áp dụng cơ chế này và có quyền khiếu nại quyết định không truy tố. Ý kiến của bị hại không nhất thiết có giá trị quyết định tuyệt đối, bởi tố tụng hình sự còn nhằm bảo vệ lợi ích công cộng, nhưng phải là tiêu chí bắt buộc trong đánh giá tính cần thiết của việc truy tố.
Mai Thanh Sơn
[1] Xem thêm: Le, L. C., Mai, S. T., Hoang, Y. H., Nguyen, D. Q., Pham, T. N., & Luong, H. T, Mandatory Prosecution in the Changing Time: A Systematic Literature Review, Criminal Justice Ethics, 44(1), 2025, pp.78-106.
[2] Hermann, D. H, Restorative justice and retributive justice: An opportunity for cooperation or an occasion for conflict in the search for justice, Seattle J. Soc. Just., 16, 2017, p.72.
[3] Trịnh Tiến Việt, Tổng quan Luật hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, 2022, tr.286-288.
[4] Finn, M. A, Evidence-based and victim-centered prosecutorial policies: Examination of deterrent and therapeutic jurisprudence effects on domestic violence, Criminology & Pub. Pol’y, 12, 2013, p.444.
[5] Neri, R, The strange case of Italian criminal prosecution. The Lawyer Quarterly, 11(4), 2021, p.600.
[6] Ji, M, Brief Introduction to the Procuratorial System in China, Springer, 2022, p.101.
[7] Nguyễn Ngọc Chí, Công lý và tiếp cận công lý trong tố tụng hình sự, Công lý và quyền tiếp cận công lý: Một số vấn đề lý luận, thực tiễn, Nxb. Hồng Đức, 2018, tr.179.
[8] Le, L. C., Mai, S. T., Hoang, Y. H., Nguyen, D. Q., Pham, T. N., & Luong, H. T, Mandatory Prosecution in the Changing Time: A Systematic Literature Review, Criminal Justice Ethics, 44(1), 2025, pp.86-88.
[9] Xem thêm tại: https://www.gesetze-im-internet.de/englisch_stpo/englisch_stpo.html truy cập ngày 12/4/2026
[10] Xem thêm tại: https://www.senato.it/sites/default/files/repository/Costituzione_INGLESE.pdf truy cập ngày 12/4/2026
[11] Xem thêm tại: https://www.mjusticia.gob.es/es/AreaTematica/DocumentacionPublicaciones/Documents/Criminal%20Procedure%20Act%202016.pdf ngày 14/4/2026
[12] Ma, Y, Prosecutorial discretion and plea bargaining in the United States, France, Germany, and Italy: A comparative perspective, International Criminal Justice Review, 12(1), 2002, 22-52.
[13] Rogers, J, Restructuring the exercise of prosecutorial discretion in England. Oxford Journal of Legal Studies, 26(4), 2006,775-803.
[14] Xem thêm tại: https://www.chinalawtranslate.com/en/criminal-procedure-law-2018/#_Toc528744296, truy cập ngày 18/5/2026.
[15] Ji, M, Brief Introduction to the Procuratorial System in China, Springer, 2022, p.103.
[16] Wang, H, Discretion and the Conditional Non-Prosecution of Juveniles, Mod. L. Rsch., 6, 2025, p.107.
[17] Võ Minh Kỳ, Võ Hồng Phượng, Quyền công tố trong nền dân chủ và nguyên tắc tùy nghi truy tố, Tạp chí Khoa học pháp lý, 2018, tr.67.
[18] . Lê Huỳnh Tấn Duy, Đinh Văn Đoàn, Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chức năng buộc tội trong kỷ nguyên mới, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, 6(90), 2025, tr.9.
[19] Nguyễn Quý Khuyến, Đặng Văn Thực, (2024), Cơ sở áp dụng chế định quyền tùy nghi truy tố của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, 11(83), tr.20.
Bài viết chưa có bình luận nào.