1. Quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Luật hình sự Cộng hòa Pháp
- Các loại hình pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự:
Ngày 22/7/1992, Bộ luật Hình sự mới của Pháp được ban hành thay thế Bộ luật Hình sự năm 1810, có hiệu lực ngày 01/3/1994 (sau đây gọi tắt là BLHS Pháp), lần đầu tiên chính thức quy định trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân. Năm 2004, một số quy định về pháp nhân trong BLHS Pháp được sửa đổi, cụ thể Điều 121-2 quy định: “Các pháp nhân trừ Nhà nước, phải chịu TNHS về những tội phạm được thực hiện bởi các cơ quan hoặc người đại diện của pháp nhân và vì lợi ích của pháp nhân theo quy định từ Điều 121-4 đến Điều 121-7. Tuy nhiên, các cơ quan công quyền địa phương và các hiệp hội của họ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi phạm tội trong quá trình hoạt động của họ mà có thể được thực hiện thông qua các thoả thuận ủy quyền dịch vụ công”.
Theo quy định của Pháp, pháp nhân bao gồm các loại pháp nhân theo luật tư, pháp nhân theo luật công và pháp nhân nước ngoài.
Pháp nhân theo luật tư bao gồm pháp nhân có mục đích tìm kiếm lợi nhuận, chẳng hạn như các công ty và pháp nhân có mục đích phi lợi nhuận (các hội, đảng phái, tổ chức...). Về cơ bản, mọi pháp nhân theo luật tư đều có thể phải chịu TNHS.
Pháp nhân theo luật công được chia làm 03 loại: Nhà nước, chính quyền địa phương và các pháp nhân khác. Trong đó, Nhà nước được loại trừ TNHS. Chính quyền địa phương có thể phải chịu TNHS. Cụ thể, chính quyền địa phương và các hiệp hội của họ phải chịu TNHS về các tội phạm xảy ra trong việc thực hiện các dịch vụ công mà các dịch vụ này có thể chuyển giao cho các chủ thể khác (thỏa thuận ủy quyền công vụ). Đó là những hoạt động không đòi hỏi phải sử dụng công quyền, chẳng hạn dịch vụ vận tải công cộng, dịch vụ căng tin trường học, thu gom rác, cấp nước, quản lý bảo tàng... Những hoạt động này có thể được chính quyền trực tiếp thực hiện hoặc chuyển giao cho tư nhân thực hiện và TNHS sẽ đặt ra trong trường hợp quá trình chính quyền trực tiếp thực hiện mà có tội phạm xảy ra. Trường hợp chuyển giao cho tư nhân thực hiện thì TNHS có thể đặt ra đối với chủ thể tiếp nhận thực hiện dịch vụ. Đối với các pháp nhân khác của luật công như cơ sở sự nghiệp công, doanh nghiệp bị quốc hữu hóa..., TNHS được đặt ra tương tự như pháp nhân theo luật tư[1].
Đối với pháp nhân nước ngoài, theo Điều 113-2 BLHS Pháp, các công ty nước ngoài có cơ sở tại Pháp có thể phải chịu TNHS và quyền tài phán của Pháp có thể được mở rộng đối với các tội phạm xảy ra bên ngoài nước Pháp trong một số trường hợp. Trách nhiệm hình sự cũng được loại trừ đối với nhà nước của quốc gia khác và được áp dụng hạn chế đối với chính quyền địa phương của các quốc gia đó.
- Phạm vi áp dụng:
Quy định về TNHS của pháp nhân lần đầu tiên được quy định trong BLHS Pháp năm 1992 (Điều 121-2). Theo đó, TNHS của pháp nhân chỉ giới hạn trong một số tội phạm nhất định[2] trong các trường hợp được quy định bởi luật hoặc văn bản dưới luật khác.
Điều 121-2 BLHS Pháp, sửa đổi, bổ sung năm 2004 quy định về TNHS của pháp nhân đã được bỏ cụm từ “trong các trường hợp được quy định bởi luật hoặc văn bản dưới luật khác”. Giới hạn các tội phạm mà pháp nhân phải chịu TNHS được mở rộng phạm vi và về nguyên tắc, chủ thể này phải chịu TNHS về mọi tội phạm. Các tội phạm mà pháp nhân phải chịu TNHS có thể được quy định trong BLHS hoặc trong các văn bản quy phạm pháp luật khác. Chẳng hạn như Điều 1335-8 Bộ luật sở hữu trí tuệ Pháp quy định pháp nhân phải chịu TNHS về các tội phạm được quy định tại các điều 1335-2 tới 1335-4 và có thể bị áp dụng những hình phạt bao gồm: Phạt tiền theo quy định tại Điều 131-39 BLHS, các hình phạt khác được liệt kê tại Điều 131-39 BLHS. Như vậy, pháp nhân theo luật hình sự Pháp có thể phải chịu TNHS về bất kỳ tội phạm nào, miễn là thỏa mãn đầy đủ các điều kiện phải chịu TNHS theo Điều 121-2 BLHS Pháp.
- Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân:
Theo Điều 121-2 BLHS Pháp thì pháp nhân phải chịu TNHS về tội phạm do cơ quan hoặc người đại diện của pháp nhân thực hiện nhân danh pháp nhân. Pháp nhân không tự mình thực hiện tội phạm mà chủ thể thực hiện hành vi phạm tội làm phát sinh TNHS của pháp nhân (cá nhân hoặc cơ quan của pháp nhân). Các chủ thể này thực hiện tội phạm mà nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân để thực hiện tội phạm, nên ngoài việc họ bị truy cứu TNHS thì pháp nhân mà họ nhân danh và vì lợi ích cũng phải chịu TNHS. Như vậy, điều kiện chịu TNHS của pháp nhân theo Luật hình sự Pháp bao gồm: (1) Tội phạm được thực hiện bởi cơ quan hoặc người đại diện của pháp nhân; (2) Tội phạm được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân.
Pháp nhân thể hiện ý chí thông qua cơ quan hoặc người đại diện của mình, vì vậy có thể hiểu rằng ý chí của cơ quan hoặc người đại diện của pháp nhân ở đây chính là ý chí của pháp nhân. Cơ quan hoặc người đại diện của pháp nhân trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình có thể cố ý hoặc vô ý phạm tội. Việc thực hiện tội phạm này nếu vì lợi ích của pháp nhân thì pháp nhân sẽ phải chịu TNHS.
“Vì lợi ích của pháp nhân” có thể được hiểu là việc thực hiện tội phạm của cá nhân đại diện pháp nhân sẽ mang lại những lợi ích nhất định cho pháp nhân. Lợi ích ở đây có thể là lợi ích vật chất, lợi ích phi vật chất, hoặc có thể chỉ là mang lại một lợi thế nhất định cho pháp nhân. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp tội phạm được thực hiện không mang lại một lợi ích thực tế, cụ thể cho pháp nhân, nhưng đã được cá nhân đại diện thực hiện trong quá trình thi hành chức năng, nhiệm vụ, họ nhân danh pháp nhân và dưới sự lãnh đạo, quản lý của pháp nhân.
Khi người đại diện pháp nhân thực hiện tội phạm vì lợi ích pháp nhân thì cả pháp nhân và người đại diện cùng chịu TNHS về tội phạm đó, “TNHS của pháp nhân không loại trừ TNHS của thể nhân là chính phạm hoặc tòng phạm về cùng một hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 4 Điều 121-3”[3] (Đoạn 3 điều 121-2 BLHS Pháp). Tuy nhiên, nguyên tắc cùng chịu TNHS của pháp nhân và người đại diện pháp nhân có những ngoại lệ. Trên thực tế, Viện công tố Pháp căn cứ vào nguyên tắc tùy nghi truy tố có quyền truy cứu pháp nhân và người đại diện pháp nhân hoặc cả hai. Như vậy, TNHS của người đại diện pháp nhân không phải là điều kiện tiên quyết để truy cứu TNHS pháp nhân.
- Hệ thống hình phạt đối với pháp nhân:
Các hình phạt đối với pháp nhân bao gồm: Phạt tiền, giải thể pháp nhân, cấm thực hiện, trực tiếp hoặc gián tiếp một hoặc nhiều hoạt động xã hội hoặc nghề nghiệp, chịu sự giám sát tư pháp, đóng cửa, bị loại khỏi các cuộc đầu thầu công khai, cấm huy động vốn, cấm ký phát hành séc, cấm sử dụng thẻ thanh toán, tịch thu vật đã sử dụng cho việc phạm tội hay do hành vi phạm tội mà có, niêm yết quyết định xử lý trên báo chí hoặc công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng. Trong đó, các hình phạt áp dụng riêng đối với pháp nhân bao gồm: Giải thể, chịu sự giám sát tư pháp và cấm huy động vốn. Hình phạt bổ sung của pháp nhân được quy định với tội vi cảnh là: Tịch thu vật đã được sử dụng cho việc phạm pháp hoặc do hành vi phạm pháp mà có, cấm ký phát hành séc.
Luật hình sự Pháp phân loại tội phạm theo mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và hình phạt áp dụng. Cụ thể, Điều 111-1 BLHS Pháp chia tội phạm thành 03 loại: Trọng tội, khinh tội và tội vi cảnh dựa trên loại hình phạt áp dụng. Đồng thời, hệ thống hình phạt đối với pháp nhân cũng được chia thành hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, Luật hình sự Pháp không phân định rõ tính chất của hình phạt chính và hình phạt bổ sung như Luật hình sự Việt Nam, do đó, trong những trường hợp luật định, hình phạt bổ sung có thể được áp dụng độc lập, thay thế cho hình phạt chính...
2. Một số kinh nghiệm và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về pháp nhân thương mại phạm tội
Một là, so với pháp luật Cộng hoà Pháp, phạm vi chủ thể phải chịu TNHS theo pháp luật Việt Nam được xác định hẹp hơn. Pháp luật hình sự Pháp ghi nhận TNHS đối với mọi pháp nhân (trừ Nhà nước), bao gồm pháp nhân theo luật tư, pháp nhân theo luật công và cả pháp nhân nước ngoài trong những điều kiện nhất định.
Trong khi đó, BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) của Việt Nam chỉ giới hạn chủ thể phải chịu TNHS là pháp nhân thương mại. Trong thực tiễn, nhiều pháp nhân phi thương mại cũng tham gia các hoạt động có khả năng gây thiệt hại nghiêm trọng cho xã hội, đặc biệt trong các lĩnh vực như môi trường, xây dựng, y tế, giáo dục, tài nguyên khoáng sản... Do đó, cần nghiên cứu sửa đổi các quy định tại Điều 2 và Điều 75 BLHS năm 2015 theo hướng mở rộng chủ thể chịu TNHS từ “pháp nhân thương mại” sang “pháp nhân”; trước mắt có thể áp dụng đối với một số pháp nhân phi thương mại hoạt động trong các lĩnh vực đặc thù, nhằm bảo đảm phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Hai là, hiện nay, TNHS của pháp nhân thương mại chỉ đặt ra đối với các tội phạm được liệt kê cụ thể tại Điều 76 BLHS năm 2015. Danh mục này chủ yếu tập trung vào các tội phạm trong lĩnh vực kinh tế, môi trường, trật tự quản lý kinh tế và một số tội phạm khác có tính chất đặc thù. Cách quy định này tuy bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch, nhưng lại thiếu tính linh hoạt, không theo kịp sự phát triển nhanh chóng của các loại tội phạm mới trong bối cảnh kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế hiện nay.
Vì vậy, cần tiếp tục rà soát, đánh giá để mở rộng hợp lý phạm vi các tội phạm mà pháp nhân có thể phải chịu TNHS, đặc biệt là các tội phạm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán, rửa tiền, an ninh mạng, y tế và an toàn thực phẩm. Đồng thời, có thể nghiên cứu kết hợp phương thức liệt kê với quy định mang tính nguyên tắc, cho phép pháp nhân chịu TNHS đối với những tội phạm có tính chất gắn liền với hoạt động tổ chức và gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích công cộng
Ba là, theo Điều 75 BLHS năm 2015 thì pháp nhân thương mại phải chịu TNHS nếu thỏa mãn 04 điều kiện sau: (1) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; (2) Vì lợi ích của pháp nhân thương mại; (3) Có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; và (4) Chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS.
Cách tiếp cận thận trọng này có ý nghĩa nhất định trong giai đoạn đầu ghi nhận TNHS của pháp nhân ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, có thể làm hạn chế khả năng xử lý hiệu quả các hành vi phạm tội tinh vi, có tổ chức của pháp nhân. Do đó, cần nghiên cứu điều chỉnh các điều kiện chịu TNHS của pháp nhân theo hướng giảm bớt những yêu cầu chứng minh không cần thiết, chuyển dần sang mô hình TNHS gắn với tổ chức. Theo đó, chỉ cần xác định hành vi phạm tội được thực hiện trong khuôn khổ hoạt động của pháp nhân, do người đại diện hoặc người có thẩm quyền thực hiện, vì lợi ích hoặc liên quan trực tiếp đến pháp nhân. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm nguyên tắc công bằng, thận trọng trong áp dụng TNHS, vừa nâng cao tính khả thi và hiệu quả của pháp luật trên thực tế.
Bốn là, hệ thống hình phạt đối với pháp nhân trong pháp luật hình sự Việt Nam bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung, trong đó hình phạt chính gồm: Phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Các hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, cấm huy động vốn.
So với hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự Cộng hòa Pháp, hệ thống hình phạt đối với pháp nhân ở Việt Nam còn tương đối đơn giản, ít loại hình, mức độ linh hoạt chưa cao. Pháp luật hình sự Pháp xây dựng một hệ thống hình phạt phong phú, đa dạng, cho phép Tòa án có nhiều lựa chọn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như đặc điểm của từng pháp nhân cụ thể. Đây cũng là kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về pháp nhân thương mại phạm tội.
Nguyễn Hương Nhung - Nguyễn Hoàng Long
Tài liệu tham khảo:
1. Conseil de l’Europe (1988), Recommandation R(88)18 concernant la responsabilité des entreprises dans les infractions commises dans l’exercice de leurs activités, adoptée le 20 octobre 1988.
2. République française, Code pénal, version consolidée au 1er janvier 2025, Dalloz, Paris.
3. Lê Cảm (2005), Những vấn đề lý luận của Luật Hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 312–325.
4. Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) (2019), Trách nhiệm hình sự của pháp nhân – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 45–68.
5. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2021), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 78–102.
6. Võ Khánh Vinh (2016), Luật hình sự so sánh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 150–180.
7. Cour de cassation (2020), Jurisprudence relative à la responsabilité pénale des personnes morales, Bulletin criminel, Paris.
8. Mireille Delmas-Marty (1986), Les grands systèmes de politique criminelle, PUF, Paris, tr. 145–162.
9. Jean Pradel (2018), Droit pénal général, 20e éd., Cujas, Paris, tr. 387–410.
10. Markus Wagner (1999), Corporate Criminal Liability, Kluwer Law International, The Hague, pp. 55–74.
11. Financial Action Task Force (FATF), International Standards on Combating Money Laundering and the Financing of Terrorism & Proliferation.
[1] Phạm Bích Học, Mai Thanh Hiếu (2007), “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo Luật hình sự Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Luật học, số 8, tr. 70-71.
[2] Xem: Markus Wagner (1999), “Corporate Criminal Liability: National and International Responses”, Commonwealth Law Bulletin, Vol. 25, No. 2, p. 600 - 602.
[3] Tiếng Pháp. République française, Code pénal, art. 121-2: “La responsabilité pénale des personnes morales n’exclut pas celle des personnes physiques auteurs ou complices des mêmes faits…”. Nguồn: https://www.legifrance.gouv.fr.
Bài viết chưa có bình luận nào.