Nghị định số 315/2026/NĐ-CP quy định về danh mục thiết bị kỹ thuật bắt buộc kiểm định, kiểm tra an ninh liên quan đến bí mật nhà nước; nguyên tắc, thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục, nội dung, quy trình và quản lý hoạt động kiểm định an ninh, kiểm tra an ninh. Đồng thời, Nghị định quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động này.
Đối tượng áp dụng gồm các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước quản lý, sử dụng thiết bị kỹ thuật bắt buộc phải kiểm định, kiểm tra an ninh; các đơn vị kiểm định an ninh, đơn vị kiểm tra an ninh và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Nghị định đồng thời xác định rõ phạm vi điều chỉnh. Theo đó, quy định tại Nghị định không áp dụng đối với hoạt động kiểm định, kiểm tra sản phẩm mật mã và các thiết bị điện tử, tin học dùng để cài đặt chương trình, phần mềm mật mã. Hoạt động kiểm định, kiểm tra an ninh thiết bị kỹ thuật theo Nghị định cũng không thay thế hoạt động kiểm tra an ninh mạng được điều chỉnh tại Luật An ninh mạng.
Việc phân định rõ phạm vi này nhằm xác định cụ thể đối tượng, hoạt động thuộc cơ chế kiểm định, kiểm tra an ninh thiết bị kỹ thuật liên quan đến bí mật nhà nước.
Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là quy định các nguyên tắc kiểm định an ninh, kiểm tra an ninh. Hoạt động này phải tuân thủ pháp luật, bảo đảm khách quan, kịp thời và chính xác; đồng thời bảo đảm sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Nghị định yêu cầu hoạt động kiểm định, kiểm tra không được gây cản trở, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức sử dụng đối tượng kiểm định, đối tượng kiểm tra.
![]() |
|
Quy định mới về kiểm định, kiểm tra an ninh thiết bị kỹ thuật bảo vệ bí mật nhà nước. |
Về trách nhiệm tổ chức thực hiện, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng theo thẩm quyền giao đơn vị có đủ năng lực, điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật và các điều kiện cần thiết thực hiện hoạt động kiểm định an ninh, kiểm tra an ninh theo quy định.
Đối với địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao cơ quan chuyên môn có chức năng quản lý về an ninh, trật tự thực hiện hoạt động kiểm tra an ninh theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Công an, trừ lĩnh vực do Bộ Quốc phòng quản lý.
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm công bố các đơn vị kiểm định, đơn vị kiểm tra thuộc phạm vi quản lý. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố đơn vị kiểm tra được giao thực hiện hoạt động kiểm tra an ninh tại địa phương.
Nghị định quy định danh mục thiết bị kỹ thuật bắt buộc phải kiểm định, kiểm tra an ninh tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định. Đối với lĩnh vực quốc phòng, ngoài danh mục này, Bộ Quốc phòng xây dựng, ban hành danh mục thiết bị kỹ thuật bắt buộc phải kiểm định, kiểm tra an ninh thuộc lĩnh vực quốc phòng.
Bộ Công an có trách nhiệm xây dựng, ban hành bộ tiêu chí an ninh thiết bị kỹ thuật làm căn cứ thực hiện hoạt động kiểm định, kiểm tra an ninh, phù hợp với yêu cầu quản lý và điều kiện kỹ thuật, công nghệ của thiết bị. Trong phạm vi, lĩnh vực thuộc Bộ Quốc phòng quản lý, Bộ Quốc phòng xây dựng, ban hành bộ tiêu chí an ninh thiết bị kỹ thuật phù hợp.
Đối với thiết bị đưa vào kiểm định, Nghị định yêu cầu phải bảo đảm nguyên trạng của nhà sản xuất. Thiết bị đưa vào kiểm tra phải đang hoạt động bình thường, ổn định.
Riêng thiết bị nhập khẩu đưa vào kiểm định phải có Giấy chứng nhận xuất xứ (Certificate of Origin - CO), Chứng nhận chất lượng (Certificate of Quality - CQ), cùng tài liệu kỹ thuật và các giấy tờ khác có liên quan nếu có.
Đối với thiết bị thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định cụ thể yêu cầu đối với thiết bị đưa vào kiểm định an ninh, kiểm tra an ninh.
Nghị định phân định rõ thời điểm thực hiện kiểm định và kiểm tra an ninh đối với thiết bị kỹ thuật. Theo đó, kiểm định an ninh được thực hiện đối với đối tượng kiểm định trước khi đưa vào sử dụng. Trường hợp đối tượng kiểm định do cơ quan có thẩm quyền cấp đã được kiểm định an ninh thì không phải thực hiện lại quy trình kiểm định theo quy định.
Trong khi đó, kiểm tra an ninh được thực hiện định kỳ 3 năm một lần, tính từ thời điểm thiết bị được dán tem kiểm định hoặc tem kiểm tra gần nhất.
Bên cạnh kiểm tra định kỳ, Nghị định quy định việc kiểm tra an ninh bất thường. Hình thức này được thực hiện đối với đối tượng kiểm tra sau khi khắc phục xong sự cố; sau khi nâng cấp, cài đặt bổ sung, thay thế phần cứng, phần mềm; khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền hoặc theo nhu cầu của tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng đối tượng kiểm tra.
Đối với thiết bị kỹ thuật thuộc danh mục do Bộ Quốc phòng ban hành, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định thời gian kiểm tra.
Nghị định số 315/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2027.
Đáng chú ý, đối với thiết bị kỹ thuật đã được đưa vào sử dụng trước thời điểm Nghị định có hiệu lực, không phải thực hiện kiểm định an ninh. Các thiết bị này chỉ áp dụng quy định về kiểm tra an ninh theo quy định về kiểm tra định kỳ và kiểm tra bất thường. Thời điểm tính kiểm tra định kỳ được xác định từ thời điểm Nghị định có hiệu lực.
Với việc quy định cụ thể danh mục thiết bị, tiêu chí an ninh, điều kiện đối với thiết bị, thẩm quyền của các cơ quan và thời điểm kiểm định, kiểm tra, Nghị định số 315/2026/NĐ-CP tạo cơ sở để tổ chức thống nhất hoạt động kiểm định, kiểm tra an ninh đối với thiết bị kỹ thuật liên quan đến bảo vệ bí mật nhà nước, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và đơn vị có liên quan trong quá trình thực hiện.
Bài viết chưa có bình luận nào.