1. Về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản
Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (gọi tắt là BLTTDS năm 2015) chưa đưa ra định nghĩa về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản. Việc nghiên cứu và đưa ra định nghĩa cho hai thuật ngữ này có ý nghĩa quan trọng trong việc triển khai các hoạt động định giá tài sản, thẩm định giá tài sản, thu thập, bổ sung chứng cứ trong hồ sơ vụ việc dân sự, từ đó đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Hiện nay, khái niệm “định giá” chỉ được quy định tại khoản 16 Điều 4 Luật giá năm 2023: “Định giá là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực hiện xác định giá của hàng hóa, dịch vụ”. Còn “thẩm định giá” là “hoạt động tư vấn xác định giá trị của tài sản thẩm định giá tại một địa điểm, thời điểm, phục vụ cho mục đích nhất định do doanh nghiệp thẩm định giá, hội đồng thẩm định giá thực hiện theo Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam”. Có thể hiểu định giá, thẩm định giá đều nhằm xác định giá trị của hàng hóa, dịch vụ, tài sản, nhưng khái niệm trong quy định của pháp luật chỉ đang thể hiện bản chất của hoạt động định giá, thẩm định giá nói chung, mà chưa xác định cụ thể về chủ thể và đối tượng định giá, thẩm định giá trong tố tụng dân sự. Điểm khác biệt khá rõ nét giữa hai hoạt động này thể hiện trong BLTTDS năm 2015. Theo đó, chủ thể có thẩm quyền ra quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá là Tòa án khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 104 BLTTDS năm 2015; còn hoạt động thẩm định giá không do cơ quan nhà nước ra quyết định thi hành, không được điều chỉnh bởi pháp luật tố tụng mà được điều chỉnh bởi pháp luật về thẩm định giá.
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định tên Điều 104 là “Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản”. Đối tượng hai hoạt động này hướng đến đều là “tài sản”. Theo Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, “tài sản” được định nghĩa theo hướng mô tả, đó là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản (Điều 105). Có ý kiến cho rằng, khái niệm tài sản rất khó định nghĩa vì đây là “một khái niệm động”[1]; định nghĩa về tài sản tại Điều 105 BLDS năm 2015 chưa bao quát, giải mã được hết các loại tài sản trong đời sống xã hội[2]. Có thể thấy, mặc dù BLDS năm 2015 đã có định nghĩa về tài sản nhưng vẫn chưa đủ căn cứ để nhận diện về tài sản, chưa xác định rõ phạm vi áp dụng của khái niệm tài sản. Do đó, theo tác giả, trong tố tụng dân sự, cần xác định tài sản định giá, thẩm định giá với bản chất là “những gì cần xác định giá trị bằng tiền, là đối tượng của quyền sở hữu và có ý nghĩa trong giải quyết vụ việc dân sự”.
Ngoài ra, BLDS năm 2015 quy định về định dạng của tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản. Tuy nhiên, trong pháp luật tố tụng dân sự, tác giả cho rằng, tài sản cần định giá, thẩm định giá chỉ có ba hình thức tồn tại là vật, giấy tờ có giá, quyền tài sản. Bởi lẽ, tiền không cần thông qua hoạt động định giá, thẩm định giá, bản thân tiền đã là kết quả của hoạt động định giá, thẩm định giá tài sản.
Từ những đánh giá, phân tích trên, tác giả cho rằng, BLTTDS năm 2015 cần bổ sung khái niệm định giá, thẩm định giá tài sản theo hướng:
“Định giá tài sản là biện pháp thu thập chứng cứ nhằm xác định giá trị của tài sản bằng đồng Việt Nam, do một hoặc các đương sự yêu cầu Tòa án áp dụng hoặc Tòa án áp dụng trong trường hợp pháp luật tố tụng dân sự quy định, làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự.
Thẩm định giá tài sản là biện pháp thu thập chứng cứ nhằm xác định giá trị của tài sản bằng đồng Việt Nam, do các bên đương sự tự thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá, hội đồng thẩm định giá thực hiện theo chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam, làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự”.
2. Về định giá lại tài sản
Hiện nay, khoản 5 Điều 104 BLTTDS năm 2015 quy định về hoạt động định giá lại tài sản như sau: “Việc định giá lại tài sản được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án dân sự”.
Thứ nhất, về chủ thể đưa ra yêu cầu định giá lại tài sản, có hai quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, cơ sở để Tòa án ra quyết định định giá lại tài sản xuất phát từ yêu cầu của một hoặc các bên đương sự. Quan điểm này dựa vào nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự (Điều 5 BLTTDS năm 2015). Cụ thể, đương sự có quyền cung cấp giá tài sản đang tranh chấp; thỏa thuận về giá tài sản đang tranh chấp (khoản 1 Điều 104 BLTTDS năm 2015). Theo đó, nếu các bên thỏa thuận được về giá trị khối tài sản đang tranh chấp hoặc cung cấp được giá tài sản thì Tòa án tôn trọng sự quyết định của các đương sự trong việc định giá tài sản; hoặc khi không thỏa thuận được giá trị tài sản, theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Tòa án ra quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá (điểm a khoản 3 Điều 104 BLTTDS năm 2015). Khi có kết quả định giá, đương sự có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án dân sự, thì đương sự có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định định giá lại tài sản. Điều này phù hợp với tinh thần tại Điều 18 Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC ngày 28/3/2014 của liên ngành trung ương hướng dẫn thi hành Điều 92 BLTTDS, đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản (Thông tư liên tịch số 02/2014)[3]:
Quan điểm thứ hai và cũng là quan điểm của tác giả cho rằng, việc định giá lại tài sản được tiến hành khi đương sự có yêu cầu hoặc Tòa án áp dụng khi xét thấy cần thiết. Cách hiểu này xuất phát từ việc khoản 5 Điều 104 BLTTDS năm 2015 không quy định rõ về chủ thể có quyền đưa ra yêu cầu định giá lại tài sản. Bên cạnh đó, không phải đương sự nào cũng am hiểu pháp luật, có thể đánh giá và chứng minh kết quả định giá lần đầu không chính xác hay không phù hợp với giá thị trường. Việc đương sự chứng minh Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thiếu trung thực, khách quan để có căn cứ yêu cầu Tòa án định giá lại tài sản là điều vô cùng khó khăn. Do đó, nếu đương sự không có yêu cầu định giá lại tài sản nhưng trong quá trình giải quyết, Tòa án phát hiện kết quả định giá do Hội đồng định giá thực hiện thiếu trung thực, khách quan và ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự, người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy Hội đồng định giá đã vi phạm trình tự, thủ tục định giá tài sản, thì Tòa án có thể chủ động ra quyết định định giá lại tài sản.
Do đó, tác giả cho rằng, cần ban hành văn bản hướng dẫn quy định, định giá lại tài sản khi thuộc các trường hợp sau: (i) Đương sự có yêu cầu khi có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc kết quả định giá lần đầu không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án dân sự; (ii) Tòa án phát hiện kết quả định giá do Hội đồng định giá thực hiện thiếu trung thực, khách quan và ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự, người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy Hội đồng định giá đã vi phạm trình tự, thủ tục định giá tài sản.
Thứ hai, về đối tượng định giá lại tài sản. Khoản 5 Điều 104 BLTTDS năm 2015 xác định đối tượng định giá lại tài sản là “kết quả định giá lần đầu”. Như vậy, chỉ định giá lại đối với kết quả định giá lần đầu được tiến hành bởi Hội đồng định giá do Tòa án thành lập mà không bao gồm kết quả định giá được thực hiện bởi tổ chức thẩm định giá tài sản do các bên lựa chọn. Nói cách khác, hoạt động thẩm định lại giá tài sản chưa được quy định trong tố tụng dân sự.
Theo tác giả, để kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản chính xác, đảm bảo quyền lợi của các bên tranh chấp, cần bổ sung quy định về “thẩm định lại giá tài sản”. Theo đó, khoản 5 Điều 104 BLTTDS năm 2015 cần được quy định như sau: “Việc định giá lại tài sản, thẩm định lại giá tài sản được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết quả định giá, thẩm định giá lần đầu không chính xác hoặc kết quả định giá, thẩm định giá lần đầu không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá, thẩm định giá tại thời điểm giải quyết vụ án dân sự”.
Thứ ba, về căn cứ định giá lại tài sản. Theo khoản 5 Điều 104 BLTTDS năm 2015, định giá lại tài sản khi có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án dân sự. Như vậy, định giá lại tài sản được tiến hành khi thuộc hai trường hợp: (i) Kết quả định giá lần đầu không chính xác; (ii) Kết quả định giá lần đầu không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên, như thế nào là kết quả định giá lần đầu “không chính xác” thì BLTTDS năm 2015 không quy định và cũng không có hướng dẫn cụ thể trong các văn bản khác. Trước đó, Điều 18 Thông tư liên tịch số 02/2014 quy định Tòa án đang giải quyết ra quyết định định giá lại tài sản theo đơn yêu cầu của một hoặc các bên đương sự khi thuộc các trường hợp sau: (i) Có căn cứ rõ ràng cho thấy kết quả định giá tài sản không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản tại thời điểm định giá; (ii) Có căn cứ cho thấy Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thiếu trung thực, khách quan. Theo đó, “kết quả định giá lần đầu không chính xác” có thể xuất phát từ sự thiếu trung thực, khách quan của Hội đồng định giá dẫn đến kết quả không chính xác.
Hiện nay, pháp luật tố tụng dân sự chưa quy định cụ thể về căn cứ xác định giá thị trường, đây vẫn còn là một khái niệm chung chung, không có khả năng xác định, đặc biệt đối với các “mặt hàng” có nhiều biến động như: Đất đai, nhà ở, chứng khoán, cổ phiếu,[4]... Điều này dẫn đến tình trạng Hội đồng định giá tài sản lúng túng khi xác định giá thị trường và thường chỉ căn cứ vào khung giá do Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh ban hành để định giá tài sản, mà không định giá sát với giá thị trường. Tuy nhiên, khung bảng giá do UBND cấp tỉnh niêm yết thường thấp hơn nhiều so với giá thị trường và dẫn đến đã có rất nhiều vụ án bị hủy hoặc sửa đổi do Hội đồng định giá chỉ đơn thuần căn cứ vào khung giá do UBND cấp tỉnh quy định[5].
Thực tiễn cho thấy, có nhiều cách xác định “giá thị trường”. Có trường hợp Hội đồng định giá căn cứ vào các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng đăng ký đất đai cung cấp và lấy mức giá bình quân; có trường hợp Hội đồng định giá tiến hành lấy phiếu ý kiến về giá của những người từng chuyển nhượng quyền sử dụng đất… Điều này cho thấy sự khó khăn và không thống nhất trong quá trình định giá tài sản của Hội đồng định giá do Tòa án thành lập hiện nay[6]. Do đó, cần ban hành văn bản pháp luật quy định chung về việc xác định giá thị trường của tài sản trong tất cả các lĩnh vực để thuận tiện cho việc nghiên cứu và áp dụng, đảm bảo sự thống nhất và phù hợp với một số văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh về giá ở nước ta hiện nay.
Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 104 BLTTDS năm 2015 quy định: “Việc định giá lại tài sản được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án dân sự”. Theo đó, đương sự có yêu cầu định giá lại phải chứng minh căn cứ hợp pháp và được Tòa án chấp nhận thì mới được quyền yêu cầu định giá lại. Tuy nhiên, việc chứng minh tính hợp pháp đó được thực hiện theo phương thức và trình tự, thủ tục như thế nào thì hiện nay BLTTDS năm 2015 chưa quy định và các văn bản khác cũng chưa có hướng dẫn. Theo tác giả, các bên đương sự có quyền yêu cầu định giá lại, thẩm định lại giá tài sản khi không đồng ý với kết quả định giá lần đầu mà tại thời điểm đó không cần chứng minh hay đưa ra căn cứ cho việc yêu cầu định giá lại, thẩm định giá lại. Nghĩa vụ chứng minh kết quả định giá lần đầu hay kết quả định giá lại có giá trị để làm căn cứ giải quyết vụ án thuộc về đương sự tại phiên tòa và do Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá và quyết định.
3. Về trình tự, thủ tục thành lập Hội đồng định giá, định giá tài sản
Trình tự, thủ tục thành lập Hội đồng định giá, định giá tài sản được quy định tại khoản 4 Điều 104 BLTTDS năm 2015. Theo đó, bên cạnh chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình xác định giá tài sản là Hội đồng định giá, thì còn có một chủ thể đặc biệt khác là UBND cấp xã[7]. Tính đặc biệt này thể hiện ở chỗ không phải trường hợp nào UBND cấp xã cũng tham gia vào việc chứng kiến định giá tài sản, mà chỉ những trường hợp “cần thiết”. Đây là quy định phù hợp và giúp tăng tính chính xác của kết quả định giá tài sản. Bởi lẽ, tại địa phương nơi có tài sản định giá, chủ thể biết rõ, đầy đủ các thông tin liên quan đến tài sản định giá là người dân và UBND cấp xã. Tuy nhiên, sự chứng kiến của người dân sẽ không xác lập được giá trị pháp lý, mà cần sự xác nhận của UBND. Đây là cơ quan có đầy đủ các tài liệu, văn bản cũng như năng lực pháp lý để xác nhận kết quả định giá của Hội đồng định giá có chính xác hay không. Tuy nhiên, quy định này còn mang tính khái quát nên khi áp dụng vào thực tiễn thì quá trình định giá tài sản lại phát sinh vướng mắc. Cụ thể, trường hợp như thế nào được coi là “cần thiết” để UBND cấp xã tham gia vào việc chứng kiến quá trình định giá tài sản? Hơn nữa, cách thức mời đại diện UBND cấp xã như thế nào, bằng thông báo, giấy mời hay một dạng văn bản khác[8]?
Do đó, cần hoàn thiện quy định về sự tham gia của UBND cấp xã trong việc chứng kiến quá trình định giá tài sản trong BLTTDS năm 2015 quy định rõ những trường hợp nào là “cần thiết”, căn cứ cho sự “cần thiết” có thể xuất phát từ việc ước tính giá trị tài sản định giá hay nguồn gốc phức tạp của tài sản (đặc biệt đối với tài sản là bất động sản).
Bên cạnh đó, quy định về trình tự, thủ tục định giá tài sản trong pháp luật tố tụng dân sự còn thiếu cụ thể khi so sánh với quy định về trình tự, thủ tục trong pháp luật tố tụng hình sự[9]. Trong khi đó, đối tượng chủ yếu trong các tranh chấp dân sự là tài sản. Việc thiếu sự cụ thể hóa trong quy định về trình tự, thủ tục định giá tài sản là một trong những nguyên nhân khiến việc định giá tài sản trong các vụ án dân sự gặp nhiều khó khăn. Dựa trên tinh thần quy định về định giá tài sản trong vụ án hình sự, tác giả đề xuất trình tự, thủ tục định giá tài sản trong trường hợp có yêu cầu định giá tài sản khi giải quyết các vụ việc dân sự, có thể quy định cụ thể trong BLTTDS hoặc trong văn bản hướng dẫn thi hành, cụ thể như sau:
(1) Tiếp nhận yêu cầu định giá tài sản của đương sự (văn bản yêu cầu định giá tài sản kèm theo các tài liệu, hồ sơ liên quan đến yêu cầu được gửi đến Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc dân sự);
(2) Khi yêu cầu định giá tài sản của đương sự hợp lệ, Tòa án ra quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá tài sản. Quyết định này được thể hiện bằng văn bản và gửi đến các đương sự trong vòng 07 ngày, kể từ ngày có quyết định;
(3) Tòa án nhân dân có thẩm quyền ra văn bản yêu cầu định giá tài sản có trách nhiệm tổ chức cho Hội đồng định giá khảo sát trực tiếp tài sản/mẫu tài sản cần định giá;
(4) Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có quyết định thành lập Hội đồng định giá, Hội đồng định giá tiến hành định giá tài sản;
(5) Hội đồng định giá đưa ra kết quả định giá tài sản và Tòa án nhân dân có thẩm quyền đưa ra kết luận đối với kết quả định giá tài sản này.
4. Về nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản
Thứ nhất, trong trường hợp vụ án có yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cả bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều đóng tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản, còn nguyên đơn không đóng tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản thì sẽ giải quyết như thế nào? Hiện nay, điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 không quy định về cách xử lý trong trường hợp này dẫn đến có hai quan điểm: Quan điểm thứ nhất, Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án với căn cứ tại điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015. Quan điểm thứ hai, Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tiếp tục giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai. Trường hợp nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản được xem như từ bỏ yêu cầu khởi kiện của mình, do đó, có thể áp dụng tương tự hệ quả pháp lý của việc nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa trong lần triệu tập hợp lệ thứ hai mà không có lý do chính đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập (khoản 2 Điều 217 BLTTDS năm 2015). Cụ thể, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tiếp tục giải quyết yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, lúc này, địa vị tố tụng sẽ thay đổi. Cách giải quyết này sẽ hạn chế việc khởi kiện nhiều lần (đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), không làm kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó, xét về bản chất, việc thành lập Hội đồng định giá tài sản chỉ là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án, nên nếu Tòa án vẫn có thể giải quyết vụ án từ các nguồn chứng cứ, tài liệu khác thì không nhất thiết phải đình chỉ giải quyết vụ án.
Từ bất cập này, tác giả kiến nghị cần ban hành văn bản hướng dẫn trong trường hợp nguyên đơn không có yêu cầu đo đạc, định giá tài sản, không tạm ứng chi phí định giá, chi phí tố tụng khác mà Tòa án vẫn có thể giải quyết vụ án từ các nguồn chứng cứ, tài liệu khác, thì chứng cứ đến đâu Tòa án giải quyết đến đó, không nhất thiết phải đình chỉ giải quyết vụ án.
Thứ hai, thực tiễn xét xử xảy ra trường hợp nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng chi phí giám định, chi phí định giá tài sản, nhưng khi có kết luận giám định, kết quả định giá tài sản thì chi phí giám định, chi phí định giá tài sản cao hơn số tiền tạm ứng; Tòa án yêu cầu nguyên đơn nộp bổ sung nhưng nguyên đơn không thực hiện, thì Tòa án có căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án không? Theo Giải đáp số 01/2018/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân tối cao về giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ (Giải đáp số 01/2018): “Trường hợp nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng chi phí giám định, chi phí định giá tài sản nhưng khi có kết luận giám định, kết quả định giá tài sản thì chi phí giám định, chi phí định giá tài sản cao hơn số tiền tạm ứng và Tòa án có yêu cầu nguyên đơn nộp bổ sung nhưng nguyên đơn không thực hiện thì căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015”. Khi đó, việc xử lý tiền tạm ứng chi phí giám định, chi phí định giá tài sản được thực hiện theo Điều 162 và Điều 166 BLTTDS năm 2015.
Mặc dù Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn đối với trường hợp đương sự không nộp chi phí định giá tài sản trong Giải đáp số 01/2018 nhưng một số Tòa án vẫn chưa vận dụng hướng dẫn này hoặc cứng nhắc trong việc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi đương sự không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản mà không căn cứ vào tình hình nộp một phần chi phí định giá tài sản của đương sự trước đó. Hơn nữa, đây chỉ là văn bản giải đáp vướng mắc trong ngành Tòa án, không phải văn bản quy phạm pháp luật.
Theo tác giả, mặc dù vấn đề này đã có giải đáp nhưng vẫn chưa đầy đủ và không phù hợp khi xác định chủ thể chi trả phí lấy kết quả định giá nếu đương sự không chấp nhận bỏ ra, cơ quan định giá sẽ không giao kết quả mà cho Tòa án “nợ tiền” (không trả tiền sẽ không nhận được kết quả định giá tài sản). Khi giải quyết các vụ việc có liên quan đến nộp thừa/thiếu tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản, thì Tòa án các cấp cần xem xét kỹ lưỡng từng trường hợp để có thể đưa ra những hướng xử lý phù hợp, vừa đảm bảo đúng quy định của pháp luật về nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng (chi phí định giá tài sản), vừa đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự trong vụ án. Ngoài ra, Tòa án phải giải thích rõ hậu quả pháp lý trong thông báo gửi tới đương sự là nếu hết thời gian thông báo, người có nghĩa vụ đóng tạm ứng chi phí định giá, chi phí tố tụng khác không thực hiện nghĩa vụ thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 và hậu quả của việc đình chỉ là nguyên đơn không có quyền khởi kiện lại theo khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015.
(Bài viết là sản phẩm từ đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường: Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, số 03/HĐ-ĐHL, ThS. Xa Kiều Oanh, năm 2024 theo Quyết định số 45/QĐ-ĐHL ngày 15/01/2024 của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh).
Xa Kiều Oanh - Nguyễn Phạm Thanh Hoa
----------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Giải đáp số 01/2018/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ.
2. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2023), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Hồng Đức.
4. “Khái quát đặc điểm về tài sản trong phân tích chính sách”, http://tailieu.ttbd.gov.vn:8080/index.php/tin-tuc/tin-tuc-ho-tro-boi-duong/item/2626-khai-quat-d-c-di-m-v-tai-s-n-trong-phan-tich-chinh-sach, truy cập ngày 08/12/2024.
5. “Nghiên cứu phương pháp định giá bất động sản trong xu hướng toàn cầu hóa của thị trường bất động sản ở Việt Nam”, https://moc.gov.vn/tl/tin-tuc/61849/nghien-cuu-phuong-phap-dinh-gia-bat-dong-san--trong-xu-huong-toan-cau-hoa-cua-thi-truong-bat-dong-san-o-viet-nam.
6. Dương Tấn Thanh (2022), “Một vài vấn đề về định giá tài sản theo quyết định của Tòa án”, Tạp chí Luật sư Việt Nam.
7. Lưu Văn Sáng (2024), “Một số vấn đề định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự”, https://tapchitoaan.vn/mot-so-van-de-ve-dinh-gia-tai-san-tham-dinh-gia-tai-san-trong-to-tung-dan-su11607.html, truy cập ngày 17/11/2024.
8. Phan Chí Hiếu, Nguyễn Thanh Tú và các tác giả khác (2021), Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản: Pháp luật, thực tiễn và kiến nghị (Sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật.
9. Nguyễn Nho Hoàng, Nguyễn Thị Thúy Hằng, Nguyễn Tuấn Anh (2024), “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do đương sự không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định BLTTDS năm 2015”, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, (54).
10. Ngô Huy Cương (2009), “Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài sản của Bộ luật Dân sự 2005 và định hướng cải tiến”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (11).
11. Nguyễn Nam Hưng (2018), “Một số vướng mắc về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong BLTTDS năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát, số 09.
12. Nguyễn Thị Thanh Vân, “Định giá tài sản trong vụ án dân sự - những vướng mắc cần khắc phục”, https://tapchitoaan.vn/dinh-gia-tai-san-trong-vu-an-dan-su-nhung-vuong-mac-can-khac-phuc, truy cập ngày 01/5/2024.
13. Trần Đình Thắng, Phạm Văn Toàn (2017), “Bản chất và nguyên tắc hoạt động thẩm định giá tài sản trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, https://tapchicongthuong.vn/ban-chat-va-nguyen-tac-hoat-dong-tham-dinh-gia-tai-san-trong-nen-kinh-te-thi-truong-o-viet-nam-47783.htm, truy cập ngày 10/12/2024.
14. Vũ Thị Hà (2023), “Quy định về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản tại Điều 104 BLTTDS năm 2015 và kiến nghị hoàn thiện”, https://tapchitoaan.vn/quy-dinh-ve-dinh-gia-tai-san-tham-dinh-gia-tai-san-tai-dieu-104-blttds-nam-2015-va-kien-nghi-hoan-thien9031.html, truy cập ngày 17/01/12024.
15. Krüger, A. K., & Reinhart, M. (2017). Theories of Valuation - Building Blocks for Conceptualizing Valuation between Practice and Structure (Tạm dịch: Các lý thuyết về định giá - Nền tảng để hình thành khái niệm về định giá giữa thực tiễn và cấu trúc), Historical Social Research, 42(1), 263-285.
[1] Ngô Huy Cương (2009), “Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài sản của BLDS năm 2005 và định hướng cải tiến”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (11), tr.23.
[2] Phan Chí Hiếu, Nguyễn Thanh Tú và các tác giả khác (2021), Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản: Pháp luật, thực tiễn và kiến nghị (Sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, tr.168.
[3] Hiện nay, ngoài Điều 104 BLTTDS năm 2015 quy định về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản thì không có văn bản nào hướng dẫn chi tiết về hoạt động này ngoại trừ Thông tư liên tịch số 02/2014 (đã hết hiệu lực), nhưng tinh thần của Thông tư liên tịch này nếu không trái luật vẫn có thể áp dụng.
[4] Nguyễn Nam Hưng (2018), “Một số vướng mắc về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát, số 09, tr.42.
[5] Nguyễn Thị Thanh Vân, “Định giá tài sản trong vụ án dân sự - những vướng mắc cần khắc phục”, https://tapchitoaan.vn/dinh-gia-tai-san-trong-vu-an-dan-su-nhung-vuong-mac-can-khac-phuc, truy cập ngày 01/5/2024.
[6] Dương Tấn Thanh (2022), “Một vài vấn đề về định giá tài sản theo quyết định của Tòa án”, Tạp chí Luật sư Việt Nam, tr.53.
[7] Công văn số 285/TANDTC – PC ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ, thẩm quyền của các Tòa án nhân dân, cụ thể tại mục 4 nêu rõ: “Tòa án nhân dân khu vực thành lập Hội đồng định giá gồm Chủ tịch Hội đồng định giá là đại diện cơ quan tài chính, thành viên Hội đồng định giá là đại diện các cơ quan chuyên môn liên quan thuộc UBND cấp xã…”.
[8] Vũ Thị Hà (2023), “Quy định về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản tại Điều 104 BLTTDS năm 2015 và kiến nghị hoàn thiện”, https://tapchitoaan.vn/quy-dinh-ve-dinh-gia-tai-san-tham-dinh-gia-tai-san-tai-dieu-104-blttds-nam-2015-va-kien-nghi-hoan-thien9031.html, truy cập ngày 17/01/2024.
[9] Văn bản hợp nhất số 31/VBHN-BTC ngày 13/7/2020 về việc hợp nhất Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự và Nghị định số 97/2019/NĐ-CP ngày 23/12/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 30/2018/NĐ- CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự; Nghị định số 250/2025/NĐ-CP ngày 22/9/2025 của Chính phủ quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự.
Bài viết chưa có bình luận nào.