Quy định mới về kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự

04/09/2026 14:28

(kiemsat.vn)
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 341/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng về hoạt động mật mã dân sự.

Quy định cụ thể về sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự

Nghị định số 341/2026/NĐ-CP quy định chi tiết điểm a khoản 1, điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 28, khoản 3 Điều 29 và các biện pháp thi hành Luật An ninh mạng về sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự; điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự; xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự; thẩm quyền, hồ sơ, thủ tục cấp, sửa đổi, bổ sung, tạm đình chỉ, thu hồi Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự, Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự.

Đối tượng áp dụng của Nghị định gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam và người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam đã được cấp giấy chứng nhận căn cước; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động mật mã dân sự tại Việt Nam.

Theo Nghị định, sản phẩm mật mã dân sự là sản phẩm phần cứng, phần mềm, tài liệu, trang thiết bị kỹ thuật và nghiệp vụ mật mã được sử dụng để bảo vệ thông tin không thuộc phạm vi bí mật nhà nước.

Dịch vụ mật mã dân sự gồm dịch vụ bảo vệ thông tin sử dụng sản phẩm mật mã dân sự; đánh giá sản phẩm mật mã dân sự; tư vấn bảo mật, an ninh mạng sử dụng sản phẩm mật mã dân sự.

Doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự thuộc Danh mục sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự tại Phụ lục I kèm theo Nghị định phải có Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự. Giấy phép này có thời hạn 10 năm.

Nghị định cũng quy định sản phẩm mật mã dân sự phải được kiểm tra, chứng nhận hợp quy trước khi lưu thông trên thị trường. Doanh nghiệp được cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự phải nộp phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.

Đối với sản phẩm lưỡng dụng có cả tính năng mật mã dân sự và tính năng an ninh mạng, Bộ Công an cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng. Trước khi cấp phép, Bộ Công an lấy ý kiến Ban Cơ yếu Chính phủ bằng văn bản về tính năng mật mã dân sự.

Về quản lý nhà nước trong lĩnh vực an ninh mạng, Bộ Quốc phòng quản lý về an ninh mạng đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; Bộ Công an quản lý về an ninh mạng đối với các đơn vị Quân đội có hoạt động dân sự, kinh tế theo thẩm quyền. Đối với các nội dung giao thoa, nếu có, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng thống nhất quy chế phối hợp.

Nghị định số 341/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng về hoạt động mật mã dân sự. (Ảnh minh họa)

Điều kiện cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự

Nghị định số 341/2026/NĐ-CP quy định doanh nghiệp được cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất và phương án kỹ thuật.

Cụ thể, doanh nghiệp phải có tối thiểu 2 cán bộ kỹ thuật có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các ngành điện tử - viễn thông, công nghệ thông tin, toán học, an toàn thông tin.

Doanh nghiệp đồng thời phải có 1 cán bộ quản lý, điều hành có bằng tốt nghiệp đại học thuộc một trong các ngành điện tử - viễn thông, công nghệ thông tin, toán học, an toàn thông tin hoặc có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành khác và có chứng chỉ đào tạo về bảo mật, an toàn thông tin.

Bên cạnh yêu cầu về nhân lực, doanh nghiệp phải có hệ thống trang thiết bị, cơ sở vật chất phù hợp với phạm vi, đối tượng, lĩnh vực cung cấp sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự; có phương án kỹ thuật phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.

Hồ sơ đề nghị cấp mới Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự gồm đơn đề nghị cấp Giấy phép theo Mẫu số 01 Phụ lục III kèm theo Nghị định; bản sao văn bằng hoặc chứng chỉ chuyên môn về bảo mật, an toàn thông tin của đội ngũ quản lý, điều hành, kỹ thuật.

Doanh nghiệp cũng phải cung cấp phương án kỹ thuật, trong đó có tài liệu về đặc tính kỹ thuật, tham số kỹ thuật của sản phẩm; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của sản phẩm; tiêu chuẩn, chất lượng dịch vụ; các biện pháp, giải pháp kỹ thuật; phương án bảo hành, bảo trì sản phẩm theo Mẫu số 03 Phụ lục III kèm theo Nghị định.

Quy định về xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự

Đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, Nghị định quy định khi xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự thuộc Danh mục sản phẩm mật mã dân sự xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép tại Phụ lục II, doanh nghiệp phải có Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự do Ban Cơ yếu Chính phủ cấp.

Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự có thời hạn 3 năm.

Danh mục sản phẩm mật mã dân sự xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép chỉ áp dụng đối với những sản phẩm có cả mã số HS, mô tả hàng hóa và mô tả đặc tính kỹ thuật mật mã trùng với mã số HS, mô tả hàng hóa và mô tả đặc tính kỹ thuật mật mã của hàng hóa thuộc Danh mục.

Trường hợp có sự khác biệt trong việc xác định mã số hàng hóa tại Danh mục ban hành kèm theo Nghị định và Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, việc xác định mã số hàng hóa được thực hiện theo quy định của pháp luật về hải quan.

Đối với sản phẩm lưỡng dụng có tính năng mật mã dân sự và tính năng an ninh mạng, Bộ Công an cấp Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm an ninh mạng. Trước khi cấp phép, Bộ Công an lấy ý kiến Ban Cơ yếu Chính phủ bằng văn bản về tính năng mật mã dân sự.

Các sản phẩm lưỡng dụng có tính năng mật mã dân sự phải đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về mật mã dân sự.

Nghị định số 341/2026/NĐ-CP đồng thời quy định về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp, sửa đổi, bổ sung, tạm đình chỉ và thu hồi các loại giấy phép trong hoạt động kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự; qua đó xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Nghị định số 341/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2026.

Quy định của Ban Bí thư về đặt hàng cung cấp thông tin cho cơ sở

(Kiemsat.vn) - Thay mặt Ban Bí thư, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Quy định số 216-QĐ/TW ngày 22/8/2026 về đặt hàng cung cấp thông tin cho cơ sở.
(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang