Loại trừ chứng cứ trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt Nam

08/06/2026 16:58

(kiemsat.vn)
Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm của Hoa Kỳ về loại trừ chứng cứ trong tố tụng hình sự; so sánh với pháp luật Việt Nam. Từ đó, gợi mở những nội dung mà Việt Nam có thể tham khảo để hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự.

1. Quy định về loại trừ chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự của Hoa Kỳ

Chế định loại trừ chứng cứ trong tố tụng hình sự của Liên bang Hoa Kỳ được quy định tại Quy tắc bằng chứng của Liên bang - Federal Rules of Evidence[1]  (gọi tắt là FRE). Quy tắc này được phê chuẩn vào ngày 02/01/1975. FRE đặt ra một số quy tắc làm cơ sở để xem xét loại trừ chứng cứ, cụ thể:

Thứ nhất, căn cứ tính liên quan của chứng cứ: Việc kiểm tra tính liên quan của chứng cứ được ghi nhận tại Quy tắc 401, theo đó tính liên quan được xác định dựa trên việc: (1) Chứng cứ có xu hướng khiến một sự kiện có khả năng xảy ra nhiều hơn hay ít hơn so với khi không có chứng cứ và (2) Khả năng sự kiện đó có ảnh hưởng đến việc xác định kết quả của vụ án. Quy tắc 402 quy định về khả năng được chấp nhận của các chứng cứ có liên quan đã được thu thập, theo đó, chứng cứ không liên quan không được chấp nhận. Quy tắc 402 cũng đặt ra ngoại lệ đối với khả năng chấp nhận của chứng cứ là ngay cả khi chứng cứ có liên quan, nó vẫn có thể không được chấp nhận nếu Hiến pháp Hoa Kỳ, luật liên bang, các quy tắc này hoặc các quy tắc khác do Tòa án tối cao quy định về chứng cứ loại trừ nó.

Thứ hai, căn cứ thành kiến, nhầm lẫn, lãng phí thời gian hoặc lý do khác: Với căn cứ loại trừ này, Quy tắc 403 quy định Thẩm phán có quyền tùy ý loại trừ chứng cứ có liên quan ngay cả khi chứng cứ có liên quan đó phù hợp với Quy tắc 401 nếu tác động tiêu cực tiềm ẩn của nó lớn hơn tính hữu ích của nó. Quy tắc nêu rõ các tình huống cụ thể trong đó chứng cứ có liên quan có thể bị loại trừ: (i) Thành kiến: Nếu chứng cứ có khả năng gây ra phản ứng cảm xúc hoặc thiên vị cho Bồi thẩm đoàn không tương xứng với giá trị thực tế của nó; (ii) Sự nhầm lẫn: Nếu chứng cứ có thể gây hiểu lầm cho Bồi thẩm đoàn hoặc làm mất tập trung vào các vấn đề chính của vụ án; (iii) Gây hiểu lầm cho Bồi thẩm đoàn: Khi có nguy cơ Bồi thẩm đoàn có thể hiểu sai bằng chứng; (iv) Trì hoãn không đáng có, lãng phí thời gian hoặc trình bày chứng cứ đã thu thập được không cần thiết: Chứng cứ bị loại trừ nếu việc xuất trình chứng cứ làm phiên toà kéo dài không cần thiết hoặc nếu nó lặp lại và bổ sung ít thông tin mới.

Thẩm phán có quyền quyết định đáng kể khi áp dụng Quy tắc 403, quy tắc này nhằm đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của các phiên tòa bằng cách cho phép Thẩm phán loại trừ chứng cứ có liên quan khi khả năng gây hiểu lầm, nhầm lẫn hoặc ảnh hưởng không đáng có đến Bồi thẩm đoàn. Quy tắc này được cho là rất cần thiết trong tố tụng Liên bang Hoa Kỳ để duy trì tính toàn vẹn của quá trình tư pháp bằng cách ngăn chặn việc đưa ra chứng cứ mặc dù có liên quan nhưng có thể làm sai lệch kết quả của phiên tòa.

Bên cạnh đó, trong tố tụng hình sự Liên bang Hoa Kỳ còn có một số quy định khác có liên quan đến vấn đề loại trừ chứng cứ như  Điều 13 (Các quy tắc khác), điểm e Quy tắc 1101 FRE quy định: Luật liên bang hoặc một quy định do Tòa án tối cao ban hành có thể quy định về việc chấp nhận hoặc loại trừ bằng chứng độc lập với các quy định này. Nếu như phần lớn quy định của FRE tập trung vào chứng cứ thì Quy tắc Liên bang về tố tụng hình sự và Quy tắc Liên bang về thủ tục phúc thẩm điều chỉnh trình tự, thủ tục tố tụng hình sự, đồng thời cũng là quá trình, cách thức chứng minh trong các vụ án hình sự. Ngoài ra, những vấn đề liên quan đến chứng cứ, chứng minh còn được quy định, giải thích trong các nguồn luật khác như Bộ luật Hoa Kỳ (US Code) và hệ thống án lệ[2].

Học thuyết “quả độc của cây độc” là một nguyên tắc pháp lý trong tố tụng hình sự Liên bang Hoa Kỳ, nó cho phép Tòa án loại bỏ các chứng cứ không hợp pháp ra khỏi một vụ án nhằm để hạn chế đến mức thấp nhất khả năng kết án sai[3]. Học thuyết này được thiết lập tại Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ XX và đang dần được áp dụng chính thức hoặc không chính thức tại nhiều hệ thống tư pháp trên thế giới[4]. Tại Hoa Kỳ, thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên bởi Thẩm phán Felix Frankfurter trong vụ Nardone v. United States (1939)[5].

Học thuyết này như một phép ẩn dụ dùng để nói về chứng cứ thu được một cách bất hợp pháp. Về nguyên tắc chung đối với việc áp dụng học thuyết này, khi quy tắc loại trừ trong Tu chính án thứ tư của Hoa Kỳ được áp dụng, nó không chỉ ở các chứng cứ trực tiếp của hành vi bất hợp pháp Ví dụ: Giả sử P là một cảnh sát, theo linh cảm của mình đã vi hiến lục soát nhà của D để tìm bằng chứng về mối liên hệ bị nghi ngờ của D với một vụ giết người. Trong quá trình lục soát, cảnh sát đã thu giữ một cuốn nhật ký. Cuốn nhật ký nêu tên một nhân chứng là W về vụ giết người, người này đồng ý làm chứng chống lại D tại phiên tòa xét xử D. Việc lục soát nhà cấu thành hành vi bất hợp pháp ban đầu đó là “cây độc”. Theo các nguyên tắc loại trừ thông thường, cuốn nhật ký không được phép sử dụng tại phiên tòa xét xử D vì đó là sản phẩm trực tiếp của cuộc lục soát bất hợp pháp. Tuy nhiên, lời khai của W có được phép sử dụng không? Chính phủ đã biết về W từ cuốn nhật ký đã bị lục soát do hành vi bất hợp pháp ban đầu, do đó, lời khai của W là “bằng chứng thứ cấp” hoặc “phái sinh”, là trái của cây độc.

Từ ví dụ trên có thể hiểu, nếu trình tự thu thập chứng cứ không tuân thủ quy định pháp luật (cây đã bị nhiễm độc), thì các chứng cứ được thu thập cũng được xem là không hợp pháp (quả cũng bị nhiễm độc theo) và phải bị loại bỏ, không được sử dụng trước Tòa án. Điều này nhằm bảo đảm sự thượng tôn pháp luật của lực lượng cảnh sát khi điều tra vụ án; đồng thời, bảo vệ các quyền cơ bản của người bị buộc tội[6]. Nguyên tắc loại trừ chứng cứ theo học thuyết này được xem xét ở hai cấp độ: (1) Cấp độ thứ nhất, học thuyết này loại trừ các chứng cứ được tìm thấy, được thu thập trực tiếp từ hành vi thu thập bất hợp pháp (tạm gọi là chứng cứ sơ phát) có nguồn gốc trực tiếp từ các biện pháp thu thập không phù hợp, trái luật. (2) Cấp độ thứ hai, cấp độ này mở rộng hơn so với cấp độ thứ nhất, nó đồng thời loại trừ các chứng cứ thứ phát có nguồn gốc từ các chứng cứ sơ phát đã bị loại trừ. Theo đó, học thuyết này không chỉ cấm việc sử dụng các chứng cứ được thu thập bất hợp pháp để làm chứng cứ tại phiên tòa, mà còn cấm việc sử dụng thông tin từ các chứng cứ đó để tiếp tục tìm kiếm các chứng cứ khác. Nếu các chứng cứ được thu thập trực tiếp (chứng cứ sơ phát) từ quá trình thu thập trái phép tiết lộ các thông tin, tài liệu, chứng cứ khác thì các thông tin, tài liệu, chứng cứ này cũng sẽ bị loại trừ (chứng cứ thứ phát)[7].

Nguyên tắc loại trừ chứng cứ theo học thuyết này hoạt động dựa trên cơ sở phải xác định được mối quan hệ nhân quả giữa “cây độc” và “quả của cây độc”. Học thuyết này cho phép tồn tại các ngoại lệ của nguyên tắc loại trừ chứng cứ mặc dù chứng cứ được phát hiện và thu thập một cách bất hợp pháp. Đó là, các trường hợp: (1) Nếu chứng cứ được phát hiện, thu thập từ một nguồn độc lập với hoạt động thu thập chứng cứ bất hợp pháp thì chứng cứ đó sẽ không bị loại trừ. Chứng cứ không có mối quan hệ nhân quả đến tính bất hợp pháp của hoạt động phát hiện, thu thập có thể được chấp nhận, chứng cứ này là “quả” của “cây không độc”; (2) Việc khám phá ra bằng chứng là sự kiện tất yếu, không thể tránh khỏi dù có hay không sự việc thu thập chứng cứ bất hợp pháp. Chứng cứ trong truờng hợp này sẽ được chấp nhận nếu cơ quan chức năng chứng minh được nó là chứng cứ cuối cùng hoặc ngoài cách phát hiện và thu thập đó ra thì họ không còn cách nào khác; (3) Nếu mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động bất hợp pháp và việc phát hiện ra chứng cứ là không rõ ràng. Ví dụ rõ nhất cho trường hợp này là nếu có việc khám xét bất hợp pháp, thu thập các tài liệu dẫn đến tiết lộ tên của một nhân chứng, thì lời khai của nhân chứng này vẫn được xem là hợp pháp bởi “tên của một người làm chứng tiềm năng tự bản thân nó không có giá trị chứng cứ đáng kể và bởi lẽ người làm chứng là một cá nhân độc lập với ý chí, trí nhớ, nhận thức, lý trí của riêng anh ta sẽ tự định đoạt việc cho lời khai”[8] nên lời khai của người làm chứng này với việc khám xét bất hợp pháp nêu trên không có mối quan hệ nhân quả rõ rệt[9].

Như vậy, nguyên tắc loại trừ chứng cứ trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ dựa trên học thuyết “quả độc của cây độc” gợi mở các vấn đề chính sau:

(1) Các trường hợp loại trừ chứng cứ: Chứng cứ sẽ bị loại trừ nếu có đủ cơ sở cho rằng chứng cứ này là “quả độc” từ “cây độc”. Tức là, nếu trình tự thu thập chứng cứ không tuân thủ quy định pháp luật thì các chứng cứ được thu thập cũng được xem là không hợp pháp và phải bị loại bỏ, không được sử dụng trước Tòa án. Có hai cấp độ loại trừ chứng cứ theo học thuyết này: (i) Loại trừ các chứng cứ được tìm thấy, được thu thập trực tiếp từ hành vi thu thập bất hợp pháp (chứng cứ sơ phát) có nguồn gốc trực tiếp từ các biện pháp thu thập không phù hợp, trái luật; (ii) Loại trừ các chứng cứ thứ cấp (thứ phát) được tiết lộ hoặc tìm kiếm thông qua chứng cứ sơ cấp (sơ phát) đã “nhiễm độc” từ quá trình thu thập trái phép.

(2) Các trường hợp chứng cứ được chấp nhận: Đây là các trường hợp mặc dù chứng cứ có thể được phát hiện, thu thập một cách bất hợp pháp nhưng vẫn có khả năng được chấp nhận và không bị loại trừ. Cụ thể: (i) Nếu chứng cứ được phát hiện, thu thập từ một nguồn độc lập với hoạt động thu thập chứng cứ bất hợp pháp; (ii) Cơ quan chức năng chứng minh được đó là chứng cứ cuối cùng hoặc ngoài cách phát hiện và thu thập đó ra thì họ không còn cách nào khác; (iii) Mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động bất hợp pháp và việc phát hiện ra chứng cứ là không rõ ràng.

2. Quy định về loại trừ chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam

Trước đây, Bộ luật Tố tụng  hình sự (BLTTHS) các năm 1988, 2003 chỉ đề cập khái niệm về chứng cứ nhưng chưa đề cập đến khái niệm loại trừ chứng cứ. Vấn đề loại trừ chứng cứ đã được quy định tương đối rõ ràng trong BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015). Theo đó, “những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự” (khoản 2 Điều 87).

Ngoài ra, dựa vào khái niệm chứng cứ quy định tại Điều 86 BLTTHS năm 2015, các thuộc tính của chứng cứ phải có gồm: Tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Như vậy, có thể hiểu, bất kỳ chứng cứ nào thiếu một trong ba thuộc tính này sẽ không có giá trị chứng minh trong vụ án.

Khi cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng  hiểu rõ và vận dụng chính xác ba thuộc tính này trong quá trình kiểm tra, đánh giá chứng cứ, loại trừ những chứng cứ không thoả mãn sẽ đảm bảo giải quyết vụ án khách quan, chính xác. Từ căn cứ về thuộc tính của chứng cứ và theo quy định tại khoản 2 Điều 87 BLTTHS năm 2015, việc loại trừ chứng cứ được thực hiện dựa trên các cơ sở sau:

(1) Loại trừ chứng cứ dựa trên tính khách quan là loại trừ những gì không có thật, không khách quan, phản ánh không đúng thực tế diễn ra của sự việc phạm tội. Đây cũng được xem là việc loại trừ thuộc tính quan trọng nhất của chứng cứ. Ở các giai đoạn này, nếu chứng cứ bị làm sai lệch, làm giả,… nhưng không được loại trừ mà được sử dụng để chứng minh sự thật vụ án thì rõ ràng sẽ kéo theo những sai lệch, phản ánh không đúng thực tế khách quan của vụ án, dẫn đến oan, sai hoặc hoạt động chứng minh của cơ quan có thẩm quyền không đạt hiệu quả.

(2) Loại trừ chứng cứ vì không đảm bảo được tính liên quan giữa vấn đề cần phải chứng minh với những gì mà chủ thể chứng minh đã thu thập được. Nói cách khác, việc loại trừ chứng cứ trên cơ sở này là việc loại trừ những chứng cứ không có mối quan hệ với tình tiết khách quan của vụ án. Khi loại bỏ chứng cứ do xác định được không đảm bảo tính liên quan sẽ tiết kiệm thời gian, kinh phí, công sức cho quá trình giải quyết vụ án hình sự.

(3) Loại trừ chứng cứ không bảo đảm tính hợp pháp là việc chứng cứ được thu thập không thuộc danh mục các nguồn chứng cứ được liệt kê trong BLTTHS. Tính hợp pháp của chứng cứ được thu thập còn được xem xét thông qua các biện pháp như lấy lời khai, hỏi cung, đối chất, khám xét, khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định, nhận dạng, các hoạt động điều tra khác... Việc thu thập chứng cứ thông qua các hoạt động này đều được tiến hành theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hoặc quy định khác có liên quan, trường hợp chứng cứ được thu thập bằng những biện pháp bất hợp pháp như bức cung; nhục hình; tra tấn,…hoặc không được mô tả đúng thực trạng, không đảm bảo thành phần trong biên bản xác nhận… đều phải bị loại trừ.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về loại trừ chứng cứ

Thứ nhất, khoản 2 Điều 87 BLTTHS năm 2015 hiện chỉ quy định trường hợp loại trừ đối với những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục mà BLTTHS quy định. Tuy nhiên, chỉ dừng lại ở giới hạn quy định trong BLTTHS là chưa đủ và cần thiết mở rộng đến quy định của pháp luật có liên quan khác đến chứng cứ đó như cách quy định của pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Hoa Kỳ để đảm bảo tính hợp pháp của chứng cứ được toàn diện. Do đó, khoản 2 Điều 87 BLTTHS năm 2015 cần được sửa đổi, bổ sung như sau:

 “Điều 87. Nguồn chứng cứ

2. Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định hoặc pháp luật liên quan có quy định khác thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự”.

Thứ hai, cần bổ sung thêm thẩm quyền loại trừ chứng cứ của Tòa án tại Điều 252 BLTTHS năm 2015, cụ thể:

“Điều 252. Tòa án xác minh, thu thập, bổ sung, loại trừ chứng cứ

Tòa án tiến hành việc xác minh, thu thập, bổ sung, loại trừ chứng cứ bằng các hoạt động:

7. Loại trừ những chứng cứ có thể có khả năng làm cho Hội đồng xét xử không vô tư khách quan; những chứng cứ làm kéo dài, trì hoãn việc giải quyết vụ án hoặc trình bày chứng cứ đã thu thập được không cần thiết”.

Thứ ba, theo khoản 6 Điều 183 BLTTHS năm 2015 thì quá trình hỏi cung bị can phải được ghi âm, ghi hình có âm thanh. Vấn đề đặt ra là khi không tiến hành ghi âm, ghi hình có âm thanh do hạn chế về điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, kiến thức chuyên môn của những người thực hiện thì nguồn chứng cứ này có thể được sử dụng làm chứng cứ để tiến hành các hoạt động điều tra tiếp theo hay không? Ngoài ra, khoản 3 Điều 183 BLTTHS năm 2015 cho phép hỏi cung bị can vào ban đêm nếu thuộc trường hợp không thể trì hoãn được. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 183 BLTTHS năm 2015 lại quy định trường hợp Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa về thời gian, địa điểm trước khi hỏi cung bị can. Như vậy, nếu thuộc trường hợp không thể trì hoãn và phải hỏi cung bị can vào ban đêm thì việc thông báo trước cho người bào chữa có được đảm bảo và giả sử người bào chữa được thông báo, nhưng không đủ thời gian để có mặt thì trong trường hợp này, chứng cứ từ lời khai qua hoạt động hỏi cung bị can (trường hợp bị can có người bào chữa) vào ban đêm cần thiết phải có văn bản hướng dẫn rõ ràng.

Châu Thị Tú Hảo

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Thị Cẩm Thu (2022), “Loại trừ chứng cứ theo luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.11.

2. Lê Huỳnh Tấn Duy (2024), “So sánh pháp luật về chứng cứ, chứng minh trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ và Việt Nam”, Tạp chí Kiểm sát, số 13, tr.54-64; số 14, tr.51-57.

3. Trịnh Duy Thuyên (2024), “Học thuyết “Quả của cây độc” trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ và quy định loại trừ chứng cứ trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Tạp chí Pháp luật & phát triển. https://phapluatphattrien.vn/hoc-thuyet-qua-cua-cay-doc-trong-to-tung-hinh-su-hoa-ky-va-quy-dinh-loai-tru-chung-cu-trong-to-tung-hinh-su-viet-nam-d153.html.

4. Võ Minh Kỳ (2018), “Một số nguyên tắc đánh giá chứng cứ trong tố tụng tranh tụng và kiến nghị cho Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3 (359), 2018, tr. 22-29,https://nsti.vista.gov.vn/publication/download/hE/qFIDnsXsUeZhZh.html.

5. Võ Minh Kỳ, Nguyễn Phương Anh (2023), “Học thuyết “Quả trên cây độc” trong tư pháp hình sự Hoa Kỳ và khuyến nghị cho Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 05, tr. 48. https://nsti.vista.gov.vn/publication/download/hE/qFIDnsXsUeZhZh.html.

6. Federal Rules of Evidence Printed for the use of The Committee On The Judiciary House Of Representatives U.S. Government Publishing Office Washington: 2023,https://www.govinfo.gov/content/pkg/CPRT-117HPRT49690/pdf/CPRT-117HPRT49690.pdf.

7. Silverthome Lumber Co.v. United States, 251 U.S. 385 (1920); và Nardone v. United States, 308 U.S. 338 (1939).

8. Vụ án Nardone v. United States , 308 US 338 (1939) của Tòa án tối cao Hoa Kỳ.

9. Cuốn sách Understanding Criminal Procedure nằm trong chuỗi sách Understanding Series, Nxb. Carolina Academic Press tại Hoa Kỳ. https://cappress.com/pdf/9781531021535.pdf và https://www.scribd.com/document/681112791

/Joshua-Dressler-Alan-Michaels-Ric-Simmons-Understanding-Criminal-Procedure-Investigation-Volume-1-Understanding-Series-Carolina-Academic-Pres.

10. Silverthorne Lumber Co., Inc. v. United States, 251 U.S. 385 (1920),https://tile.loc.gov/storageservices/service/ll/usrep/usrep251/usrep251385/usrep251385.pdf .


[1] Federal Rules of Evidence Printed for the use of The Committee On The Judiciary House Of Representatives U.S. Government Publishing Office Washington: 2023, https://www.govinfo.gov/content/pkg/CPRT-117HPRT49690/pdf/CPRT-117HPRT49690.pdf (truy cập ngày 21/10/2024).

[2] Lê Huỳnh Tấn Duy (2024), “So sánh pháp luật về chứng cứ, chứng minh trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ và Việt Nam”, Tạp chí Kiểm sát, Số 13, tr. 54-64; Số 14, tr. 51-57.

[3] Trịnh Duy Thuyên (2024), “Học thuyết “Quả của cây độc” trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ và quy định loại trừ chứng cứ trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Tạp chí Pháp luật & Phát triển, https://phapluatphattrien.vn/hoc-thuyet-qua-cua-cay-doc-trong-to-tung-hinh-su-hoa-ky-va-quy-dinh-loai-tru-chung-cu-trong-to-tung-hinh-su-viet-nam-d153.html, truy cập ngày 20/10/2024.

[4] Võ Minh Kỳ (2018), “Một số nguyên tắc đánh giá chứng cứ trong tố tụng tranh tụng và kiến nghị cho Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 3 (359), 2018, tr. 22-29, https://nsti.vista.gov.vn/publication/download/hE/qFIDnsXsUeZhZh.html, truy cập ngày 20/10/2024.

[5] Nardone v. United States , 308 US 338 (1939) là một vụ án của Tòa án tối cao Hoa Kỳ trong đó Tòa án phán quyết rằng bằng chứng thu được thông qua việc nghe lén không có lệnh, vi phạm Đạo luật truyền thông năm 1934 là không được chấp nhận tại Tòa án liên bang. Tòa án phán quyết rằng việc sử dụng bằng chứng thu được trực tiếp từ việc nghe lén, bằng chứng thu được thông qua việc thu được từ các cuộc trò chuyện bị nghe lén, là không được chấp nhận tại Tòa án.

[6] Võ Minh Kỳ, Nguyễn Phương Anh, Học thuyết “Quả trên cây độc” trong tư pháp hình sự Hoa Kỳ và khuyến nghị cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 05/2023, tr.49.

[7] Võ Minh Kỳ - Nguyễn Phương Anh, tlđd (chú thích số 14), tr. 50.

[8] Smith v . United States , 324 F. 2d 879 ( D.C. Cir 1963), cert . denied, 377 U.S. 954 (1964 ), p. 881.

[9] Võ Minh Kỳ, Nguyễn Phương Anh (2023), tlđd (chú thích số 14), tr. 52.

Giải pháp nâng cao chất lượng kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự

(Kiemsat.vn) - Quyền kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình thực hiện chức năng từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự, thông qua việc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khắc phục vi phạm, xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp và yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục, áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm khi phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý.
(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang