1. Những kết quả đạt được trong công tác kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình
Từ năm 2022 đến năm 2024, công tác kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) có nhiều chuyển biến tích cực. Số lượng kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm được Hội đồng xét xử chấp nhận tăng dần qua các năm, nhiều bản án, quyết định có vi phạm nghiêm trọng về tố tụng, nội dung đã được phát hiện và kháng nghị kịp thời. Một số vụ án phức tạp, kéo dài đã được xem xét lại thông qua kháng nghị, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Tuy còn tồn tại một số trường hợp kháng nghị chậm, hoặc không phát hiện bản án, quyết định có sai sót nhưng công tác kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của VKSND tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và tăng cường niềm tin của nhân dân vào công lý, vào ngành Kiểm sát nhân dân.
Tỉ lệ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện kiểm sát đã xét xử được Tòa án chấp nhận kháng nghị lần lượt từ năm 2022 đến năm 2024 là: 64,4%, 66%, 76%. Số liệu này phản ánh, tỉ lệ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm được Tòa án chấp nhận trung bình là: 68,8%. Có thể rút ra một số đánh giá, nhận xét về thực trạng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của VKSND như sau: (1) Tỉ lệ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được ban hành (so với số vụ thụ lý, giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm) trong 03 năm 2022, 2023, 2024 cho thấy số lượng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được kháng nghị theo thủ tục này chiếm tỉ lệ khá cao, phản ánh VKSND thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ; (2) Tỉ lệ kháng nghị của VKSND theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được chấp nhận sau khi được Tòa án xét xử trung bình trong 03 năm đạt 68,8%, năm sau cao hơn năm trước. Điều này chứng tỏ rằng, phần lớn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của VKSND có căn cứ chấp nhận, nhưng quá trình giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình ở Tòa án cấp dưới vẫn còn một số tồn tại, sai sót; (3) Việc thực hiện quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của VKSND trong tố tụng dân sự đã cho thấy những nỗ lực, cố gắng đạt được những kết quả đáng ghi nhận; phản ánh sự chủ động, trách nhiệm của VKSND trong việc thực hiện nhiệm vụ và bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, đặc biệt là đối với những vụ án kéo dài trong nhiều năm.
2. Các dạng vi phạm phổ biến của Tòa án được phát hiện thông qua công tác kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình
2.1. Các vi phạm pháp luật về tố tụng
- Về điều kiện thụ lý vụ án (Tòa án thụ lý khi đương sự chưa có đủ điều kiện khởi kiện): Trường hợp này thường xảy ra đối với các tranh chấp về quyền sử dụng đất, Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án khi tranh chấp của đương sự chưa được thực hiện hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn…
- Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Một số trường hợp Tòa án thụ lý vụ án không đúng thẩm quyền. Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh nhưng Tòa án cấp huyện lại thụ lý để giải quyết hoặc vụ án của Tòa án cấp tỉnh nhưng Tòa án cấp tỉnh lại chuyển Tòa án cấp huyện giải quyết hoặc tranh chấp đương sự đã yêu cầu Ủy ban nhân dân giải quyết nhưng Tòa án vẫn thụ lý, giải quyết. Vi phạm này chủ yếu liên quan đến yêu cầu hủy quyết định cá biệt và vụ án đương sự ở nước ngoài…
- Về xác định thiếu, không chính xác tư cách người tham gia tố tụng: Tòa án không đưa đầy đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng, thường xảy ra trong các vụ tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất; đất cấp cho hộ gia đình nhưng khi giải quyết, Tòa án không đưa những người trong hộ vào tham gia tố tụng hoặc không đưa những người đang thuê nhà trên đất khi giải quyết tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất… và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan lại được xác định là người làm chứng…
- Về việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Việc xác định đúng bản chất quan hệ tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án giúp xác định chính xác phạm vi xét xử, đồng thời vận dụng đúng các quy định của pháp luật để giải quyết tranh chấp phát sinh. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều vụ án do Tòa án xác định không đúng bản chất quan hệ tranh chấp hoặc xác định thiếu quan hệ tranh chấp giữa các đương sự, dẫn đến việc Tòa án giải quyết vượt quá hoặc không đầy đủ yêu cầu của đương sự.
- Về thu thập chứng cứ không đầy đủ: Một số vụ án, Tòa án không thu thập đầy đủ chứng cứ nhưng đã ra bản án, quyết định như không thu thập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong các vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất; không thu thập chứng cứ về nguồn gốc hình thành tài sản, công sức tôn tạo làm tăng giá trị tài sản trong các vụ án ly hôn, thừa kế; không thu thập giấy tờ về việc chốt nợ... trong vụ án về vay tài sản…
- Về sử dụng chứng cứ: Tòa án sử dụng chứng cứ không có giá trị chứng minh do vi phạm quy định về xác minh, thu thập chứng cứ tại Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015; tài liệu do đương sự cung cấp liên quan đến nước ngoài chưa được hợp pháp hóa lãnh sự nhưng vẫn được sử dụng làm chứng cứ để giải quyết vụ án theo Điều 105 BLTTDS năm 2015; sử dụng tài liệu photo không có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc không đối chiếu với tài liệu gốc để giải quyết vụ án.
- Về sửa chữa, bổ sung bản án: Ví dụ trường hợp khi tuyên án đối với vụ án tranh chấp về đất đai, Thẩm phán không tuyên rõ ràng về tứ cận thửa đất, không xác định ranh giới những diện tích đất được công nhận với diện tích đất sử dụng chung, dẫn đến khó khăn cho việc thi hành án; sau khi có bản án, Thẩm phán lại ban hành công văn thông báo sửa chữa, bổ sung bản án hoặc giải thích bản án, không phù hợp với khoản 1 Điều 268 BLTTDS năm 2015.
2.2. Các vi phạm pháp luật về nội dung
- Tòa án giải quyết vụ án vượt quá yêu cầu của đương sự: Ví dụ đương sự chỉ kháng cáo về phần chia tài sản chung nhưng Tòa án lại xem xét và tuyên án thêm về quyền nuôi con, mặc dù không có yêu cầu hoặc kháng cáo nào liên quan đến nội dung này.
Tòa án giải quyết không đầy đủ yêu cầu của đương sự: Ví dụ đương sự đã có yêu cầu rõ ràng về nghĩa vụ cấp dưỡng, chia tài sản, bồi thường tổn thất tinh thần... nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại bỏ sót không xem xét hoặc chỉ xem xét một phần, khiến quyền lợi hợp pháp của đương sự không được bảo vệ đầy đủ.
- Tòa án giải quyết vụ án không đúng với bản chất của sự việc, không phù hợp với tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Ví dụ: Tòa án chấp nhận hợp đồng tặng cho tài sản giữa vợ chồng mà không xem xét hoàn cảnh lập hợp đồng, trong khi hợp đồng này có dấu hiệu bị ép buộc hoặc giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ hoặc Tòa án bác yêu cầu cấp dưỡng của người vợ trong khi người chồng có đủ khả năng tài chính, chỉ dựa trên lời khai một phía mà không xác minh điều kiện sống và thu nhập thực tế.
- Sai lầm trong việc áp dụng pháp luật (cả pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng): Áp dụng thời hiệu khởi kiện khi không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 184 BLTTDS năm 2015; áp dụng pháp luật tại thời điểm giải quyết mà không áp dụng pháp luật tại thời điểm xác lập quan hệ tranh chấp (thời điểm sự kiện pháp lý xảy ra) để giải quyết; không áp dụng hoặc bỏ sót quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ đặc thù: Ví dụ, không áp dụng Luật hộ tịch khi xem xét tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân với người nước ngoài, hoặc không áp dụng Luật trẻ em khi quyết định quyền nuôi con trong trường hợp có yếu tố bạo lực gia đình, ảnh hưởng tâm lý trẻ…
3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình
Một là, Kiểm sát viên cần nắm vững toàn bộ hồ sơ vụ án, từ đơn khởi kiện, biên bản hòa giải, các bản án sơ thẩm, phúc thẩm, đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của đương sự cho đến các chứng cứ và lập luận của các bên. Bên cạnh đó, phân tích kỹ các mối quan hệ của pháp luật để vận dụng, nhận định và đánh giá chứng cứ đúng bản chất của vụ việc… từ đó, phát hiện các sai lầm nghiêm trọng trong tố tụng hoặc áp dụng pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
Hai là, làm rõ các vấn đề về chứng cứ. Việc nhận định và đánh giá chứng cứ của vụ việc dân sự là rất quan trọng. Pháp luật tố tụng dân sự quy định đương sự khởi kiện yêu cầu, bị đơn phản tố, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì phải cung cấp tài liệu, chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình, Tòa án chỉ tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ trong những trường hợp nhất định theo quy định của pháp luật. Do vậy, khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, công chức, Kiểm sát viên trước tiên phải nắm chắc nguồn chứng cứ trong vụ việc dân sự, giúp cho quá trình nhận định và đánh giá chứng cứ của vụ việc dân sự được khách quan, toàn diện. Trong một số vụ việc phức tạp, có thể thu thập thêm tài liệu chứng cứ để thực hiện quyền kháng nghị. Công chức, Kiểm sát viên cần yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp hồ sơ, tài liệu để làm căn cứ cho việc đánh giá tính đúng đắn của bản án.
Ba là, nắm vững lý do đương sự đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Trong đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, đương sự thường nêu lý do vì sao đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và kèm theo các tài liệu chứng cứ (nếu có). Bên cạnh nắm vững nội dung vụ án, yêu cầu của các bên đương sự…, Kiểm sát viên cần phải nắm chắc các lý do mà đương sự đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Cần ưu tiên rà soát đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm kéo dài, dư luận quan tâm, liên quan đến đồng bào dân tộc ít người, chính sách tôn giáo… Đối với những vi phạm của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà đương sự không đề cập trong đơn thì không kháng nghị, trừ trường hợp bản án, quyết định đó xâm phạm lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước, lợi ích hợp pháp của người thứ ba. Điều này thể hiện việc tuân thủ nguyên tắc quyền tự định đoạt của các bên đương sự, một trong những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự.
Bốn là, nâng cao kỹ năng xây dựng văn bản kháng nghị. Cần tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu về kỹ năng viết quyết định kháng nghị, báo cáo đề xuất kháng nghị, bảo đảm tính rõ ràng, logic, có căn cứ pháp lý và thuyết phục. Kiểm sát viên cần thường xuyên tìm tòi học tập án lệ, kỹ năng lập luận pháp lý của các bản án, kháng nghị điển hình được Tòa án nhân dân tối cao và VKSND tối cao ban hành.
Đinh Tuấn Anh - Bùi Thị Kim Cúc
Bài viết chưa có bình luận nào.