Giải pháp cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

23/07/2026 10:05

(kiemsat.vn)
Bài viết phân tích những bất cập, hạn chế của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ người khác trên thực tiễn. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp và xây dựng cơ chế hướng dẫn, giải thích pháp luật thống nhất, nhằm nâng cao hiệu quả công tác công tố trong giai đoạn điều tra đối với tội phạm này.

Bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền được bảo hộ về tính mạng và sức khỏe, là yêu cầu xuyên suốt của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”[1]. Trong lĩnh vực hình sự, việc xử lý nghiêm minh các hành vi xâm phạm sức khỏe con người không chỉ nhằm bảo đảm công lý mà còn góp phần duy trì trật tự, an toàn xã hội.

Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác tác động trái pháp luật đến thân thể người khác, gây tổn hại cho sức khỏe của họ[2]. Đây là loại tội phạm có đặc điểm diễn biến nhanh, mang tính bộc phát, nhiều trường hợp xuất phát từ mâu thuẫn xã hội nhỏ nhưng hậu quả pháp lý nghiêm trọng. Không ít vụ án có nhiều người tham gia, sử dụng hung khí nguy hiểm, gây khó khăn cho hoạt động điều tra và chứng minh tội phạm.

Trong bối cảnh đó, thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra giữ vai trò đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm việc khởi tố, điều tra và xử lý vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; đồng thời phòng ngừa oan, sai và bỏ lọt tội phạm. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy hoạt động này vẫn còn những hạn chế nhất định cả về phương diện pháp lý và tổ chức thực hiện. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá các khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra đối với loại án này có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.

1. Những hạn chế, vướng mắc khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác

Một là, khó khăn trong thu thập, đánh giá chứng cứ và xác định vai trò đồng phạm. Các vụ án cố ý gây thương tích thường xảy ra trong thời gian ngắn, mang tính bộc phát, có nhiều người tham gia và diễn ra tại địa điểm công cộng hoặc khu vực phức tạp về an ninh, trật tự. Trong nhiều trường hợp, cơ quan tiến hành tố tụng không thu thập được đầy đủ chứng cứ trực tiếp; lời khai giữa bị can, bị hại và người làm chứng có sự mâu thuẫn, thay đổi qua các giai đoạn tố tụng. Điều này ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động chứng minh tội phạm và đánh giá chứng cứ của Kiểm sát viên.

Khoản 1 Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự, bao gồm hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, lỗi, động cơ, mục đích phạm tội và các tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án[3]. Tuy nhiên, trong thực tiễn giải quyết án cố ý gây thương tích, việc làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của từng đối tượng với hậu quả xảy ra gặp nhiều khó khăn, nhất là trong các vụ án đồng phạm có đông người tham gia.

Một số vụ án chưa xác định chính xác vai trò của từng bị can, dẫn đến khó khăn trong cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Có trường hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát tồn tại quan điểm khác nhau về tội danh, vai trò đồng phạm hoặc căn cứ áp dụng tình tiết định khung tăng nặng theo Điều 134 Bộ luật Hình sự. Hệ quả là hồ sơ vụ án phải trả để điều tra bổ sung theo Điều 245 Bộ luật Tố tụng hình sự[4], kéo dài thời hạn giải quyết vụ án và ảnh hưởng đến hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Hai là, vướng mắc trong hoạt động giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Trong cấu thành của tội cố ý gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là căn cứ quan trọng để xác định dấu hiệu định tội và khung hình phạt. Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự, đa số trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự đều gắn với tỷ lệ tổn thương cơ thể hoặc thuộc các trường hợp sử dụng hung khí nguy hiểm, có tính chất côn đồ, phạm tội có tổ chức hoặc thuộc các tình tiết định khung khác[5].

Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết án cho thấy hoạt động giám định thương tích còn nhiều khó khăn. Trước hết, có trường hợp bị hại từ chối giám định hoặc không hợp tác trong quá trình trưng cầu giám định. Mặc dù điểm b khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự cho phép áp dụng biện pháp dẫn giải đối với người bị hại trong trường hợp từ chối giám định mà không có lý do chính đáng[6], song việc tổ chức thực hiện trên thực tế còn hạn chế do tâm lý e ngại va chạm, hòa giải hoặc do bị tác động từ phía người phạm tội.

Ngoài ra, trong nhiều vụ việc, cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào hồ sơ điều trị y tế để xác định mức độ tổn thương cơ thể khi việc giám định trực tiếp không thể thực hiện. Tuy nhiên, hồ sơ điều trị nhiều khi không đầy đủ hoặc bị hại điều trị tại nhiều cơ sở y tế khác nhau, dẫn đến khó khăn trong việc xác định chính xác hậu quả thương tích.

Một vấn đề khác là tình trạng kết luận giám định có sự mâu thuẫn hoặc chênh lệch đáng kể giữa các lần giám định. Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành chưa quy định cụ thể giới hạn số lần giám định lại cũng như cơ chế xử lý khi có nhiều kết luận giám định khác nhau. Điều này dẫn đến thực trạng một số vụ án phải kéo dài do trưng cầu giám định nhiều lần, ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án và hiệu quả thực hành quyền công tố.

Ba là, hạn chế trong hoạt động kiểm sát điều tra của Kiểm sát viên. Theo quy định tại Điều 165 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra[7]. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy ở một số vụ án, Kiểm sát viên chưa phát huy đầy đủ vai trò chủ động trong kiểm sát điều tra; việc kiểm sát đôi khi còn mang tính hình thức, chủ yếu dựa vào kết quả điều tra của Cơ quan điều tra mà chưa tích cực kiểm tra, đánh giá độc lập chứng cứ.

Một số hồ sơ kiểm sát chưa phản ánh đầy đủ quá trình thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên; việc xây dựng yêu cầu điều tra chưa thực sự trọng tâm, chưa bám sát các vấn đề cần chứng minh trong vụ án. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng đánh giá chứng cứ, làm giảm tính thuyết phục của quyết định tố tụng và tiềm ẩn nguy cơ oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm.

Bên cạnh đó, trình độ chuyên môn, kỹ năng tranh tụng và kinh nghiệm thực tiễn của một bộ phận Kiểm sát viên chưa đáp ứng yêu cầu giải quyết các vụ án có tính chất phức tạp, nhất là các vụ án có đông người tham gia hoặc phát sinh tranh chấp về cơ chế hình thành thương tích.

2. Giải pháp

Để khắc phục những hạn chế, vướng mắc hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác, cần có những giải pháp:

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.

Một trong những yêu cầu đặt ra hiện nay là tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự liên quan đến giải quyết các vụ án cố ý gây thương tích.

Trước hết, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến việc từ chối giám định của bị hại. Pháp luật hiện hành chưa quy định rõ hậu quả pháp lý của hành vi không hợp tác trong giám định thương tích, dẫn đến khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định dấu hiệu tội phạm. Do đó, cần có hướng dẫn thống nhất về trình tự áp dụng biện pháp dẫn giải và cơ chế xử lý đối với trường hợp cố tình cản trở hoạt động tố tụng.

Bên cạnh đó, cần hoàn thiện quy định về giám định bổ sung và giám định lại. Cơ quan có thẩm quyền nên ban hành hướng dẫn cụ thể về điều kiện, căn cứ trưng cầu giám định lại và nguyên tắc đánh giá khi có nhiều kết luận giám định khác nhau nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật.

Đối với hoạt động thực hành quyền công tố, cần tiếp tục cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên theo Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự[8], đặc biệt là trách nhiệm đề ra yêu cầu điều tra, trực tiếp kiểm sát hoạt động điều tra và kiểm tra tính hợp pháp của chứng cứ. Việc hoàn thiện cơ chế pháp lý không chỉ nâng cao trách nhiệm cá nhân của Kiểm sát viên mà còn góp phần tăng cường hiệu quả kiểm sát hoạt động tư pháp.

Thứ hai, nâng cao chất lượng quản lý, chỉ đạo và kiểm tra nghiệp vụ.

Hiệu quả thực hành quyền công tố phụ thuộc đáng kể vào công tác quản lý, chỉ đạo điều hành của lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp. Vì vậy, cần xác định rõ trách nhiệm quản lý hành chính và trách nhiệm tố tụng của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Việc phân công Kiểm sát viên cần căn cứ vào năng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và tính chất phức tạp của vụ án. Đối với các vụ án có nhiều bị can, sử dụng hung khí nguy hiểm hoặc phát sinh tranh chấp về tỷ lệ thương tích, cần phân công Kiểm sát viên có kinh nghiệm trực tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.

Lãnh đạo Viện kiểm sát cần tăng cường kiểm tra hồ sơ, kiểm tra tiến độ giải quyết vụ án và kịp thời hướng dẫn nghiệp vụ đối với những vụ án phức tạp. Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả công tác tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm nghiệp vụ thông qua các chuyên đề, hội nghị trực tuyến hoặc thông báo rút kinh nghiệm toàn Ngành.

Thứ ba, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng Kiểm sát viên.

Đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ là giải pháp có ý nghĩa lâu dài nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố. Nội dung đào tạo cần gắn với yêu cầu thực tiễn giải quyết các vụ án xâm phạm sức khỏe con người, chú trọng kỹ năng đánh giá chứng cứ, xây dựng yêu cầu điều tra và kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa.

Các cơ sở đào tạo chuyên ngành cần tăng cường tổ chức các phiên tòa giả định, tình huống nghiệp vụ và chuyên đề về giám định pháp y, kỹ năng đánh giá thương tích, kỹ năng xác định vai trò đồng phạm trong vụ án có nhiều người tham gia.

Bên cạnh đào tạo tập trung, cần chú trọng cơ chế “đào tạo tại chỗ”, trong đó Kiểm sát viên có kinh nghiệm hướng dẫn, kèm cặp Kiểm sát viên trẻ. Đây là phương thức hiệu quả để truyền đạt kỹ năng thực tiễn và nâng cao bản lĩnh nghề nghiệp.

Ngoài ra, cần hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đánh giá Kiểm sát viên theo hướng công khai, minh bạch, gắn với yêu cầu cải cách tư pháp và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ngành Kiểm sát nhân dân.

Thứ tư, tăng cường hiệu quả phối hợp liên ngành trong giải quyết vụ án. 

Theo Điều 3 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, hoạt động tố tụng hình sự phải bảo đảm phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trên cơ sở tuân thủ pháp luật[9]. Trong giải quyết các vụ án cố ý gây thương tích, sự phối hợp giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội.

Trên thực tế, một số địa phương đã ban hành quy chế phối hợp liên ngành nhưng hiệu quả thực hiện chưa đồng đều. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; trưng cầu giám định; đánh giá chứng cứ và thống nhất quan điểm xử lý vụ án.

Định kỳ cần tổ chức giao ban liên ngành để trao đổi khó khăn, vướng mắc và thống nhất áp dụng pháp luật đối với những vấn đề còn có nhiều cách hiểu khác nhau, đặc biệt là việc xác định hung khí nguy hiểm, tình tiết có tính chất côn đồ hoặc vai trò đồng phạm trong vụ án có đông người tham gia.

Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bảo đảm điều kiện vật chất.

Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tố tụng là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết án hình sự. Viện kiểm sát các cấp cần đẩy mạnh số hóa hồ sơ vụ án, sử dụng phần mềm quản lý án và tăng cường kết nối dữ liệu điện tử với các cơ quan tiến hành tố tụng.

Đồng thời, cần đầu tư trang thiết bị phục vụ hoạt động điều tra và kiểm sát điều tra như hệ thống ghi âm, ghi hình có âm thanh theo quy định tại Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự[10], thiết bị lưu trữ dữ liệu điện tử và hệ thống bảo mật thông tin.

Bên cạnh đó, cần quan tâm hơn đến chế độ, chính sách đối với Kiểm sát viên và công chức làm công tác hình sự nhằm tạo điều kiện ổn định đời sống, nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp và hạn chế sai sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Có thể nói, thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm xử lý nghiêm minh tội phạm, bảo vệ quyền con người và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết loại án này vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc liên quan đến hoạt động chứng minh tội phạm, giám định thương tích, đánh giá chứng cứ và phối hợp liên ngành.

Để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như hoàn thiện pháp luật hình sự và tố tụng hình sự; nâng cao chất lượng đội ngũ Kiểm sát viên; tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo nghiệp vụ; đẩy mạnh phối hợp liên ngành và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tố tụng. Việc thực hiện hiệu quả các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng giải quyết án hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Đặng Vũ Thắng

VKSND khu vực 9 - Hải Phòng

-------------------------------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo

1.    Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. 
2.    Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. 
3.    Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. 
4.    Nguyễn Ngọc Anh, Phan Trung Hoài (đồng chủ biên) (2018), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 
5.    Lê Cảm (2004), “Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số chuyên đề, Hà Nội. 
6.    Nguyễn Mai Bộ, “Các tội xâm phạm sức khỏe con người – Bất cập và kiến nghị”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử. 
7.    Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2019), Giáo trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, truy tố vụ án hình sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 
8.    Vũ Đức Hạnh (2021), Chế định thực hành quyền công tố, Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội. 
9.    Vũ Thị Thanh Hằng (2019), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự và thực tiễn tại tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. 

------------------------------------------------

[1] Điều 20 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

[2] Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[4] Điều 245 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[5] Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Điểm b khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[7] Điều 165 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[8] Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[9] Điều 3 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[10] Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Hoàn thiện quy định về chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu thể chế số

(Kiemsat.vn) - Thông qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, tác giả đề xuất hoàn thiện pháp luật theo hướng thừa nhận chứng cứ điện tử là loại chứng cứ độc lập; bổ sung tiêu chí xác thực, toàn vẹn và khả năng kiểm chứng của dữ liệu; xây dựng cơ chế thu thập, bảo quản, phục hồi dữ liệu và bảo đảm quyền tiếp cận, tranh tụng trong môi trường tố tụng số.
(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang