Người làm chứng là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự và việc phân hóa thủ tục tố tụng dựa theo độ tuổi

17/07/2026 15:47

(kiemsat.vn)
Pháp luật tố tụng hình sự đối với người làm chứng chưa thành niên đang ngày càng hoàn thiện, hướng đến mục tiêu đảm bảo lợi ích tốt nhất cho họ khi tham gia vào hệ thống tư pháp hình sự. Trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu, xây dựng hoàn thiện các quy định tố tụng theo hướng phân hóa độ tuổi của người làm chứng chưa thành niên phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của đối tượng này.

1. Một số vấn đề về người làm chứng chưa thành niên trong tố tụng hình sự và sự cần thiết của việc phân hóa thủ tục tố tụng dựa theo các độ tuổi chưa thành niên

Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) quy định người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng. Khoản 4 Điều 3 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật tư pháp NCTN năm 2024) quy định người chưa thành niên là người làm chứng là người dưới 18 tuổi biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.

Yêu cầu chung về nhận thức đối với người làm chứng dưới 18 tuổi là đối tượng dễ bị tổn thương và cần sự trợ giúp đặc biệt, phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và nhu cầu cá nhân trong tố tụng hình sự[1]. Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của liên hợp quốc (UNODC) và Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) cũng khuyến nghị người làm chứng dưới 18 tuổi nên được đối xử một cách quan tâm và nhạy cảm (caring and sensitive) trong suốt quá trình tố tụng[2]. Theo đó, khi làm việc cùng người làm chứng dưới 18 tuổi thì Điều tra viên phải dành một khoảng thời gian thích hợp cùng với họ để tìm hiểu sự việc đã xảy ra mà không được nôn nóng. Khi tiến hành lấy lời khai, người thẩm vấn phải được tập huấn để có thể đặt câu hỏi chính xác đối với người làm chứng dưới 18 tuổi. Khi tiếp xúc với người làm chứng dưới 18 tuổi nên xem xét nhu cầu cá nhân, suy nghĩ và cảm xúc của họ; đồng thời, nên tiếp xúc ở địa điểm mà người làm chứng dưới 18 tuổi cảm thấy thoải mái và an toàn[3]. Xuất phát từ các nguyên tắc bảo vệ lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự, các thủ tục tố tụng đối với họ có sự khác biệt nhất định so với người từ đủ 18 tuổi, phải thân thiện, đảm bảo tiến hành nhanh chóng, hạn chế tiếp xúc để tránh gây ra sự lo lắng, sợ hãi, tổn thương đối với họ.

Khi nghiên cứu về người làm chứng chưa thành niên, một vấn đề quan trọng là mối liên hệ khả năng nhận thức của họ và mức độ tin cậy của lời khai mà họ đưa ra[4]. Có thể thấy, dưới 18 tuổi là một khoảng tuổi rất rộng và sự nhận thức của người dưới 18 tuổi có sự khác biệt rất lớn theo từng độ tuổi. Nếu ở độ tuổi quá nhỏ, sự lo ngại là người làm chứng khó có thể hiểu và biết về những gì họ được hỏi và họ khai báo[5]. Những người làm chứng chưa thành niên càng nhỏ tuổi thì càng dễ bị các gợi ý ám thị (suggestibility) dẫn dắt và ảnh hưởng đến lời khai[6], một đứa trẻ ở độ tuổi 3 - 4 sẽ có mức độ nhận thức và khả năng tư duy khác với người chưa thành niên ở độ tuổi 16 - 17. Khác với người bị buộc tội, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thường được giới hạn ở lứa tuổi giáo dục trung học. Ví dụ: Tại Việt Nam, Điều 12 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định độ tuổi tối thiểu để chịu trách nhiệm hình sự là 14 tuổi. Nghĩa là, người bị buộc tội tham gia tố tụng tối thiểu cũng từ 14 tuổi trở lên. Tuy nhiên, chưa có quy định về độ tuổi tối thiểu của người làm chứng. Trong khi đó, lời khai của của người làm chứng dưới 18 tuổi, nếu sai lầm, có thể gây tác động tiêu cực đến tính chính xác của quá trình tố tụng nhưng họ lại có thể không phải chịu trách nhiệm về lời khai đó do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự[7].

Nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ em khi đến tuổi đi học (6 tuổi) có nhiều khả năng đủ nhận thức để cho lời khai[8]. Một khảo sát khác đối với những nhân viên tư pháp cho thấy, có 62% người được khảo sát cho rằng người dưới 07 tuổi là quá nhỏ để có thể cung cấp lời khai được dùng làm bằng chứng giải quyết vụ án. Nghĩa là chỉ nên cho phép người từ 07 tuổi trở lên cho lời khai[9]. Có ý kiến cho rằng, độ tuổi 09 đến 10 thì mới có đủ nhận thức và trải nghiệm sống để có sự nhận thức về sự thật và có khả năng cho lời khai sự thật[10]. Ý kiến khác cho rằng, các tiêu chuẩn để một người làm chứng dưới 18 tuổi có thể cung cấp lời khai bao gồm: Trí thông minh, hiểu biết và khả năng quan sát, nhớ lại và truyền đạt các sự kiện; khả năng hiểu được mức độ nghiêm trọng của lời cam đoan khi cho lời khai và biết được sự cần thiết phải nói sự thật[11]. Mặt khác, sự phát triển và nhận thức của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào môi trường sống và nuôi dưỡng[12].

Ở từng độ tuổi khác nhau trong khoảng tuổi dưới 18 cần phải có sự bảo vệ ở mức độ khác nhau, theo nguyên tắc chung là càng nhỏ tuổi thì càng dễ bị tổn thương. Do đó, việc quy định thủ tục tố tụng dựa theo sự phân hóa độ tuổi dưới 18 là cần thiết để bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi, đồng thời cũng cân bằng với các thiết chế khác trong tố tụng hình sự như quyền của người bị buộc tội và thủ tục tố tụng công bằng.

Ví dụ: Từ góc độ quyền được xét xử công bằng của người bị buộc tội, quyền hỏi, kiểm tra người làm chứng chống lại mình (the right to confront/examine the witness against himself/herself) là một quyền cơ bản được thừa nhận rộng rãi như là một quyền thành tố của quyền được xét xử công bằng (right to a fair trial) trong các công ước quốc tế cũng như pháp luật tại nhiều quốc gia[13]. Quyền này nhằm bảo đảm bị cáo được trực tiếp hỏi, kiểm tra tính xác thực của lời khai buộc tội bị cáo, đồng thời, giúp Hội đồng xét xử có cơ hội trực tiếp kiểm tra, quan sát thái độ, lời nói, hành vi của người cho lời khai để họ có cơ sở đánh giá tính xác thực của các lời khai đó[14]. Khi vụ án có người làm chứng dưới 18 tuổi, việc hỏi, kiểm tra trực tiếp người làm chứng chống lại mình của người bị buộc tội có thể gây tổn hại đến lợi ích tốt nhất của người làm chứng. Bởi lẽ khi đối mặt với người đưa ra lời khai buộc tội chính mình, người bị buộc tội có thể không đảm bảo được cảm xúc và có thái độ, hành vi, lời nói mang tính đe dọa, tổn thương người làm chứng trong quá trình hỏi. Trong trường hợp này, người bị buộc tội hoặc người bào chữa của họ chỉ nên thực hiện quyền hỏi, kiểm tra một cách gián tiếp thông qua các phương tiện kỹ thuật hoặc thông qua một bên trung gian để tránh gây ra các cảm xúc tiêu cực và có hại đến với người làm chứng dưới 18 tuổi[15].

2. Quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng đối với người làm chứng là người chưa thành niên

Trước năm 2024, thủ tục tố tụng đối với người làm chứng dưới 18 tuổi được quy định chung trong Chương XXVIII về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi, từ Điều 413 đến 430 của BLTTHS 2015. 

Các khoản 1, 4, và 5 Điều 5 Luật tư pháp NCTN năm 2024 quy định về việc bảo đảm lợi ích tốt nhất của người làm chứng là NCTN, cụ thể: Khi giải quyết vụ việc, vụ án có NCTN phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của họ; bảo đảm an toàn cho NCTN trong quá trình tố tụng, thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, thi hành án phạt tù theo quy định của pháp luật; hỗ trợ kịp thời và nhanh nhất có thể đối với NCTN. Đồng thời, Điều 6 Luật này cũng quy định bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, theo đó thủ tục tố tụng đối với NCTN phải bảo đảm đơn giản, thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành và khả năng nhận thức của họ.

Trong giai đoạn điều tra, truy tố, hoạt động điều tra đối với người làm chứng chưa thành niên được quy định cụ thể tại Chương VIII, từ Điều 153 đến Điều 159 Luật tư pháp NCTN năm 2024. Theo đó, các điều 153, 154, và 155 quy định các nguyên tắc chung về việc bảo vệ người làm chứng là NCTN khi tham gia tố tụng, việc tham gia của người đại diện của họ và việc giữ bí mật các thông tin của họ trong quá trình tố tụng. Đặc biệt, khoản 6 Điều 153 Luật này quy định người làm chứng chưa thành niên không bị dẫn giải, đây là bước phát triển trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của người làm chứng chưa thành niên so với BLTTHS năm 2015.

Từ Điều 156 đến Điều 159 Luật tư pháp NCTN năm 2024 quy định việc tham gia của người làm chứng chưa thành niên trong các hoạt động tố tụng cụ thể như lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra, khám xét dấu vết thân thể và tham gia phiên tòa. Đây là điểm tiến bộ so với BLTTHS năm 2015 khi đã bổ sung quy định về sự tham gia của người làm chứng chưa thành niên vào các hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra, và khám xét dấu vết thân thể.

Điều 156 Luật tư pháp NCTN năm 2024 quy định về việc lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra đối với người làm chứng chưa thành niên. Theo đó, việc thực hiện các hoạt động này phải có mặt của người đại diện của họ và người tiến hành tố tụng phải mặc trang phục phù hợp, không mặc trang phục ngành.

Về hoạt động lấy lời khai, việc lấy lời khai phải ưu tiên địa điểm lấy lời khai tại nơi cư trú của họ. Khi tiến hành lấy lời khai, phải có thái độ thân thiện, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, phù hợp với lứa tuổi, giới tính, khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành, đặc điểm riêng về hoàn cảnh gia đình, tình trạng tâm lý, sức khỏe và những đặc điểm khác của NCTN. Người tiến hành tố tụng có thể sử dụng sơ đồ, mô hình, thiết bị điện tử hoặc công cụ khác để hỗ trợ việc lấy lời khai. Ngoài ra, phải hạn chế tối đa số lần lấy lời khai, chỉ lấy lời khai khi thực sự cần thiết để phục vụ hoạt động tố tụng và không hỏi nhiều lần về cùng một nội dung. Việc lấy lời khai không quá 02 lần trong 01 ngày và mỗi lần không quá 02 giờ, trừ trường hợp vụ việc, vụ án có nhiều tình tiết phức tạp. Việc lấy lời khai phải tạm dừng ngay khi NCTN có biểu hiện mệt mỏi, ảnh hưởng đến khả năng khai báo chính xác, đầy đủ.

Về hoạt động đối chất, Điều 156 Luật tư pháp NCTN năm 2024  quy định không tiến hành đối chất giữa NCTN là người làm chứng với người bị buộc tội, trừ trường hợp nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án. Nếu buộc phải đối chất thì phải bố trí cho người tham gia đối chất ngồi ở phòng cách ly và sử dụng thiết bị điện tử, màn che hoặc các biện pháp bảo vệ khác để không làm ảnh hưởng đến tâm lý của NCTN. Việc đối chất chỉ được tiến hành 01 lần trong một ngày và không quá 02 giờ.

Về các hoạt động nhận dạng, nhận biết giọng nói và thực nghiệm điều tra thì Luật tư pháp NCTN năm 2024 chưa quy định cụ thể thủ tục riêng đối với người làm chứng chưa thành niên, nên có thể suy đoán thủ tục này tương tự đối với người thành niên. Tuy nhiên, Điều 156 Luật này quy định NCTN là người làm chứng có quyền từ chối tham gia vào hoạt động thực nghiệm điều tra, nếu hoạt động đó có thể làm tổn thương tâm lý, tinh thần của họ.

Điều 157 Luật tư pháp NCTN năm 2024 quy định về việc xem xét dấu vết trên thân thể, trưng cầu giám định NCTN là người làm chứng. Theo đó, việc xem xét dấu vết trên thân thể của họ phải có sự tham gia của người đại diện của họ, bảo đảm thời gian xem xét dấu vết trên thân thể được tiến hành nhanh nhất. Chỉ được trưng cầu giám định hoặc lấy mẫu trên cơ thể nếu có căn cứ cho rằng việc đó là cần thiết để giải quyết vụ việc, vụ án. Khi tiến hành việc giám định và lấy mẫu trên cơ thể phải tôn trọng quyền riêng tư của NCTN.

Trong giai đoạn xét xử, Điều 158 Luật tư pháp NCTN năm 2024 quy định về việc hạn chế tiếp xúc với bị cáo. Theo đó, Hội đồng xét xử phải hạn chế việc tiếp xúc giữa NCTN là người làm chứng với bị cáo khi họ trình bày lời khai tại phiên tòa. Trong quá trình xét xử vụ án, Hội đồng xét xử phải cách ly NCTN là người làm chứng với bị cáo trong trường hợp có yêu cầu của NCTN hoặc người đại diện của họ và Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly để bảo đảm lợi ích tốt nhất của NCTN.

Điều 159 Luật tư pháp NCTN năm 2024 quy định cụ thể về thủ tục xét xử, theo đó hạn chế việc triệu tập NCTN là người làm chứng tham gia phiên tòa nếu không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sử dụng lời khai của họ trong hồ sơ vụ án hoặc áp dụng các biện pháp thay thế khác để xét xử vụ án. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể quyết định xét xử trực tuyến. Trường hợp họ tham gia phiên tòa thì bố trí cho họ ngồi ở phòng cách ly và sử dụng các thiết bị điện tử, trường hợp không bố trí được phòng cách ly thì để họ ngồi ở phòng xử án nhưng phải bố trí khu vực ngăn cách với bị cáo.

Khi xét xử phải bảo đảm các yêu cầu sau đây: (1) Khi xét hỏi, câu hỏi cần ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu, dùng ngôn ngữ phù hợp với lứa tuổi, giới tính, khả năng nhận thức và mức độ trưởng thành của NCTN, không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc. Việc xét hỏi cần chú ý đặc điểm riêng về hoàn cảnh gia đình, tình trạng tâm lý, sức khỏe và những đặc điểm khác của họ; (2) Trường hợp cần thiết, có thể sử dụng sơ đồ, mô hình cơ thể, thiết bị điện tử hoặc công cụ khác để hỗ trợ họ trả lời câu hỏi. Không được yêu cầu họ chỉ vào bộ phận trên cơ thể của họ; (3) Không hỏi những câu mang tính công kích, đe dọa, làm xấu hổ hoặc xúc phạm.

3. Hạn chế trong thủ tục tố tụng đối với người làm chứng chưa thành niên trong pháp luật Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Hạn chế lớn nhất của thủ tục tố tụng đối với người làm chứng chưa thành niên hiện nay là Luật tư pháp NCTN năm 2024 xác định bất kể là trẻ 01 tuổi hay người 17 tuổi đều là NCTN. Lời khai của những người làm chứng chưa thành niên ở các độ tuổi khác nhau này có giá trị như nhau. Tại khoản 1 Điều 17 Luật tư pháp NCTN năm 2024 khẳng định ý kiến trình bày của NCTN không bị coi là không đáng tin cậy chỉ vì lý do tuổi của họ. Việc chưa phân hóa độ tuổi người làm chứng dưới 18 tuổi trong thủ tục tố tụng dẫn đến hai vấn đề sau:

Thứ nhất, thủ tục tố tụng đối với mọi lứa tuổi dưới 18 giống nhau có thể dẫn đến khả năng suy giảm tính đúng đắn (tính khách quan) của lời khai người làm chứng dưới 18 tuổi, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến tính hiệu quả, chính xác của tiến trình tố tụng. Cần phải thấy rằng, trẻ càng nhỏ tuổi thì khả năng nhận thức và sử dụng ngôn ngữ càng kém phát triển, do đó, đôi khi họ không thể hiểu, nhớ sự việc mà họ chứng kiến hoặc không thể hiểu câu hỏi và câu trả lời. Do đó, quy trình tố tụng đôi khi phải cần có sự trợ giúp của các chuyên gia đã được đào tạo về chăm sóc trẻ nhỏ để có thể giúp trẻ hiểu và diễn đạt suy nghĩ; hoặc đôi khi các chuyên gia này sẽ đưa ra bình luận, nhận định chuyên môn giúp người tiến hành tố tụng hiểu được suy nghĩ của trẻ[16]. Người dưới 18 tuổi ở độ tuổi 16 - 17 có thể không quá cần thiết đến sự trợ giúp đặc biệt này, tuy nhiên, đối với người làm chứng ở độ tuổi 5 - 6 thì sự trợ giúp này là cần thiết.

Thứ hai, cách thức người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đối xử đối với người làm chứng chưa thành niên sẽ bị áp dụng chung một quy trình tố tụng, dù mức độ phát triển về thể chất và tinh thần là khác biệt rất lớn. Ví dụ: Trẻ 6 - 7 tuổi sẽ khác biệt rất lớn với người 16 - 17 tuổi, dù cả hai đều được xác định là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự. Điều này chưa tạo ra sự bảo vệ tốt nhất đối với người làm chứng quá nhỏ tuổi (như dưới 10 tuổi). So sánh với bị hại, có thể thấy bị hại đã được pháp luật tố tụng hình sự bảo vệ tốt hơn bởi sự phân hóa độ tuổi ở mức tương đối. Ví dụ: Tại khoản 2 Điều 158 Luật tư pháp NCTN năm 2024 quy định trong quá trình xét xử vụ án, Hội đồng xét xử phải cách ly NCTN là bị hại với bị cáo trong trường hợp bị hại là người dưới 10 tuổi hoặc tại điểm c khoản 3 Điều 7 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi nêu rõ khi xét xử thì việc đặt câu hỏi đối với bị hại dưới 10 tuổi không quá 10 từ và thời gian hỏi không liên tục quá 01 giờ.

Pháp luật tố tụng hình sự đã có những tiến bộ trong việc bảo vệ quyền lợi của người tham gia tố tụng chưa thành niên nói chung, người làm chứng chưa thành niên nói riêng; tuy nhiên chưa có sự phân hóa thủ tục tố tụng đối với từng độ tuổi chưa thành niên. Hiện nay, pháp luật đã có sự phân biệt giữa trẻ em là người dưới 16 tuổi (Điều 1 Luật trẻ em năm 2016) và NCTN là người chưa đủ 18 tuổi (khoản 4 Điều 3 Luật tư pháp NCTN năm 2024, khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015)[17]. Việc xác định mọi đối tượng dưới 18 tuổi đều là NCTN là chưa đảm bảo sự đối xử “phù hợp với lứa tuổi, mức độ trưởng thành” theo như hướng dẫn của Liên hợp quốc, cũng như theo pháp luật Việt Nam về bảo vệ trẻ em.

Do đó, tác giả cho rằng cần sửa đổi, bổ sung theo hướng sự phân loại độ tuổi người làm chứng dưới 18 tuổi để thiết kế thủ tục tố tụng phù hợp hơn đối với họ để đảm bảo nguyên tắc bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho người làm chứng dưới 18 tuổi khi họ tham gia tố tụng. Việc sửa đổi, bổ sung này nên được đưa vào các văn bản hướng dẫn dưới luật (như nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thông tư liên tịch của liên ngành tư pháp trung ương,…) để đảm bảo tính linh hoạt, kịp thời thay đổi để phù hợp với tình hình phát triển thực tế của NCTN ở Việt Nam.

Theo tác giả, có thể tham khảo cách phân loại năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự tại Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xem xét, cụ thể, tách ra thành 03 nhóm: Dưới 06 tuổi, từ 06 đến dưới 15 tuổi và từ 15 đến dưới 18 tuổi. Theo đó, mức độ đối xử thân thiện được thực hiện cao nhất ở lứa tuổi nhỏ và giảm dần theo độ tuổi. Người dưới 06 tuổi khi làm chứng phải được bảo vệ theo cách nghiêm ngặt, hạn chế tuyệt đối các khả năng gây tổn thương cho trẻ và phải có sự đồng hành của chuyên gia trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, giáo dục trẻ em trong suốt quá trình tham gia các hoạt động tố tụng để các chuyên gia này có thể hỗ trợ trẻ diễn đạt lại ý kiến của trẻ một cách khách quan, chính xác. Người từ đủ 06 đến dưới 15 tuổi thì tùy thuộc vào mức độ trưởng thành cụ thể, mà các hoạt động tố tụng có thể được tiến hành theo mức độ thân thiện phù hợp, trong trường hợp đặc biệt thì theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của họ, có thể có sự tham gia của chuyên gia lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, giáo dục trẻ em trong các hoạt động tố tụng. Đối với người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi, do đây là nhóm đã tương đối trưởng thành, nên quy trình tố tụng có thể được linh hoạt hơn hai nhóm trên và chỉ cần có sự tham gia của người đại diện hợp pháp cùng họ trong quá trình tố tụng.

Tuy nhiên, tham gia vào giao dịch dân sự và tố tụng dân sự hoàn toàn khác với việc liên quan đến các vấn đề hình sự, là lĩnh vực liên quan đến tội phạm và hình phạt. Do đó, để có cách phân hóa độ tuổi tốt hơn, phù hợp với sự phát triển về nhận thức, tâm lý, thể chất của trẻ em Việt Nam thì cần có thêm nhiều nghiên cứu liên ngành.

Võ Minh Kỳ


[1] UN, “Guidelines on Justice in Matters involving Child Victims and Witnesses of Crime,” (2005), Điều 7b, https://www.un.org/en/ecosoc/docs/2005/resolution%202005-20.pdf, truy cập ngày 04/3/2025.

[2] UNODC and UNICEF, “United Nations Guidelines on Justice in Matters Involving Child Victims and Witnesses of Crime - Child Friendly Version” (December 2006), tr. 6. https://www.unodc.org/pdf/criminal_justice/Guidelines_E.pdf, truy cập ngày 04/3/2025.

[3] UNODC and UNICEF, tlđd, tr. 7.

[4] Judy Cashmore and Kay Bussey, “Judicial Perceptions of Child Witness Competence Special Issue of Children’s Capacities in Legal Contexts,” Law and Human Behavior 20, no. 3 (1996), tr. 313. https://heinonline.org/HOL/P?h=hein.journals/lwhmbv20&i=321.

[5] Angela D. Evans and Thomas D. Lyon, “Assessing Children’s Competency to Take the Oath in Court: The Influence of Question Type on Children’s Accuracy,” Law and Human Behavior 36, no. 3 (2012), tr. 195, https://www.jstor.org/stable/43598504.\\uc0\\u8221{}{\\i{}Law and Human Behavior} 36, no. 3 (2012).

[6] S. J. Ceci and M. Bruck, “Suggestibility of the Child Witness: A Historical Review and Synthesis,” Psychological Bulletin 113, no. 3 (May 1993), tr. 403–439, https://doi.org/10.1037/0033-2909.113.3.403.

[7] Ví dụ: Đối với Tội khai báo gian dối (Điều 382 Bộ luật Hình sự) thì chủ thể chịu trách nhiệm hình sự phải từ đủ 16 tuổi trở lên theo Điều 12 Bộ luật Hình sự.

[8] Angela D. Evans and Thomas D. Lyon, tlđd, tr. 201–203.but children exhibited substantial variability in their performance based on question-type. Definition questions, about the meaning of the truth and lies, were the most difficult largely due to errors in response to \”Do you know\” questions. Questions about the consequences of lying were more difficult than questions evaluating the morality of lying. Children exhibited high rates of error in response to questions about whether they had ever told a lie. Attorneys rarely asked children hypothetical questions in a form that has been found to facilitate performance. Defense attorneys asked a higher proportion of the more difficult question types than prosecutors. The findings suggest that children’s truth-lie competency is underestimated by courtroom questioning and support growing doubts about the utility of the competency requirements.”,”container-title”:”Law and Human Behavior”,”ISSN”:”0147-7307”,”issue”:”3”,”note”:”publisher: [Springer, American Psychology-Law Society (AP-LS).

[9] Judy Cashmore and Kay Bussey, tlđd, tr. 318.

[10] Albert J. Solnit, “Truth Telling: The Child as Witness Special Issue: Sexual Abuse and Exploitation of Children,” International Journal of Children’s Rights 2, no. 1 (1994), tr. 63.https://heinonline.org/HOL/P?h=hein.journals/intjchrb2&i=71.

[11] Robert H. Pantell et al., “The Child Witness in the Courtroom,” Pediatrics 139, no. 3 (March 1, 2017): e20164008, https://doi.org/10.1542/peds.2016-4008.children

have increasingly served as witnesses in the criminal, civil, and family courts; currently, >100 000 children appear in court each year. This statement updates the 1992 American Academy of Pediatrics (AAP).

[12] Michael Lewis and Linda C. Mayes, “The Role of Environments in Development:: An Introduction,” in The Cambridge Handbook of Environment in Human Development, ed. Linda Mayes and Michael Lewis, Cambridge Handbooks in Psychology (Cambridge: Cambridge University Press, 2012), tr. 1–2. https://doi.org/10.1017/CBO9781139016827.001.

[13] Xem thêm Võ Minh Kỳ, Quyền của bị cáo trong việc hỏi người làm chứng chống lại mình, chứng cứ tin đồn và thẩm vấn chéo trong pháp luật tố tụng hình sự, Tạp chí Luật học, số 10 (281), 10/2023, tr. 42-56.

[14] David F. Abernethy, “Protecting the Child Witness: Avoiding Physical Confrontation with the Accused,” Army Lawyer 1985, no. 11 (1985), tr. 24. https://heinonline.org/HOL/P?h=hein.journals/armylaw1985&i=749.

[15] Fawzia Cassim, “The Rights of Child Witnesses versus the Accused’s Right to Confrontation: A Comparative Perspective,” The Comparative and International Law Journal of Southern Africa 36, no. 1 (2003), tr. 80. https://www.jstor.org/stable/23252224.

[16] Julie A. Buck - Kamala London - and Daniel B. Wright, “Expert Testimony Regarding Child Witnesses: Does It Sensitize Jurors to Forensic Interview Quality?,” Law and Human Behavior 35, no. 2 (2011), tr. 152. https://www.jstor.org/stable/41488983.

[17] Lê Huỳnh Tấn Duy và Yvon Dandurand, “Sự đối xử với bị hại và nhân chứng của tội phạm là NCTN theo hệ thống tư pháp Việt Nam,”  Kỷ yếu hội thảo khoa học tư pháp hình sự đối với NCTN, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2021, tr. 710-711.

Bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử trong giải quyết vụ án đánh bạc, tổ chức đánh bạc trên không gian mạng

(Kiemsat.vn) - Hoạt động đánh bạc, tổ chức đánh bạc trên không gian mạng ngày càng gia tăng, diễn biến phức tạp và gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho xã hội. Dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ quan trọng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án này. Tuy nhiên, đặc tính dễ bị thay đổi, xóa bỏ của dữ liệu điện tử đặt ra yêu cầu phải bảo đảm tính toàn vẹn của nó nhằm đảm bảo giá trị chứng minh.
(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang