Các văn kiện quốc tế đã đề ra các tiêu chuẩn cho việc bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em. Cụ thể Điều 16 và Điều 40 (2) (vii) của Công ước quốc tế về quyền của trẻ em đã khẳng định rằng quyền riêng tư của trẻ em phải được tôn trọng đầy đủ ở tất cả các giai đoạn của quá trình tư pháp. Các quy định chung này đã được Ủy ban Quyền trẻ em của Liên hợp quốc làm rõ trong Bình luận chung số 10. Theo đó, tất cả các giai đoạn của quá trình tư pháp bao gồm từ khi tiếp xúc ban đầu với cơ quan thực thi pháp luật cho đến khi ra quyết định cuối cùng của một cơ quan có thẩm quyền, hoặc gỡ bỏ giám sát, giam giữ hoặc tước tự do. Ủy ban Quyền trẻ em khuyến nghị tất cả các quốc gia nên áp dụng quy tắc phiên tòa và các phiên xét xử trẻ em phạm tội cần được tiến hành kín. Bản án/án phạt nên được tuyên bố công khai trong phiên tòa theo hình thức để danh tính của trẻ em không được tiết lộ. Ủy ban Quyền trẻ em của Liên hợp quốc cũng khuyến nghị rằng các quốc gia nên áp dụng các quy tắc cho phép loại bỏ tự động tên của trẻ em phạm tội khỏi hồ sơ tư pháp khi đạt đến độ tuổi 18, hoặc đối với một số tội phạm nghiêm trọng, việc loại bỏ có thể thực hiện theo yêu cầu của trẻ em, nếu cần thiết dưới một số điều kiện (Ví dụ: Không phạm tội sau 02 năm kể từ lần kết án cuối cùng)[1].
Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về hoạt động tư pháp đối với người chưa thành niên (NCTN) năm 1985 (Quy tắc Bắc Kinh) cũng có quy định về bảo vệ quyền riêng tư đối với NCTN phạm tội. Theo đó, quyền riêng tư của NCTN phạm tội sẽ được tôn trọng ở mọi giai đoạn để tránh gây thiệt hại cho họ[2]. Về nguyên tắc, không nên công bố bất kỳ thông tin nào có thể dẫn đến việc nhận diện được người phạm tội chưa thành niên[3]. Hồ sơ của NCTN phạm tội sẽ được bảo mật và không tiết lộ cho bên thứ ba. Việc tiếp cận các hồ sơ này sẽ chỉ giới hạn cho những người trực tiếp liên quan đến giải quyết vụ án hiện tại hoặc những người được ủy quyền một cách hợp pháp[4]. Hồ sơ của NCTN phạm tội cũng sẽ không được sử dụng trong các phiên xét xử người đã thành niên[5].
1. Quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam về bảo vệ quyền riêng tư của người chưa thành niên bị buộc tội
- Pháp luật Canada:
Đạo luật tư pháp hình sự thanh niên (YCJA) của Canada được áp dụng cho người từ 12 đến dưới 18 tuổi, thiết lập một cơ chế tư pháp riêng biệt cho nhóm đối tượng này nhằm cân bằng giữa trách nhiệm hình sự và cơ hội tái hòa nhập. Một trong những nguyên tắc quan trọng của YCJA là bảo vệ quyền riêng tư của thanh niên bị buộc tội hoặc bị kết án, nhằm giảm thiểu nguy cơ dán nhãn tội phạm và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tái hòa nhập cộng đồng.
Điều 110 YCJA[6] nghiêm cấm việc công bố tên hoặc thông tin có thể nhận diện một cá nhân trong hệ thống tư pháp thanh niên. Điều này không chỉ ngăn chặn việc truyền thông công khai danh tính mà còn giới hạn quyền tiếp cận vào hồ sơ tư pháp của họ. Hành vi vi phạm quy định này có thể bị xử lý hình sự với mức án phạt tù lên đến 02 năm, nhấn mạnh tính nghiêm trọng của việc bảo mật thông tin cá nhân trong hệ thống tư pháp thanh niên Canada.
Ngoài ra, hành vi “công bố” trong YCJA được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm mọi hình thức truyền thông làm cho thông tin trở nên công khai hoặc có thể tiếp cận bởi công chúng; bao gồm các phương tiện truyền thống (báo in, radio, truyền hình…) cũng như phương tiện kỹ thuật số hiện đại (Facebook, Youtube, Twitter…)[7]. Điều này phản ánh một cách tiếp cận toàn diện nhằm đảm bảo rằng thông tin cá nhân của NCTN không bị lộ diện, ngay cả trong bối cảnh truyền thông số ngày càng phát triển.
- Pháp luật Trung Quốc:
Trung Quốc cũng có các quy định pháp lý nghiêm ngặt nhằm bảo vệ quyền riêng tư của NCTN trong hệ thống tư pháp hình sự. Hai văn bản luật quan trọng liên quan đến vấn đề này là Luật bảo vệ nạn nhân trong các vụ án liên quan đến hành vi phạm tội của NCTN[8] và Luật phòng ngừa tội phạm NCTN[9].
Theo Điều 58 Luật bảo vệ nạn nhân trong các vụ án liên quan đến hành vi phạm tội của NCTN, các phương tiện truyền thông đại chúng, bao gồm báo chí, truyền hình và internet không được phép công khai danh tính, hình ảnh, địa chỉ hoặc bất kỳ thông tin nào có thể xác định NCTN bị cáo buộc phạm tội. Mục tiêu của quy định này là ngăn chặn sự kỳ thị xã hội và bảo vệ quyền riêng tư của NCTN.
Bên cạnh đó, Điều 3 Luật phòng ngừa tội phạm NCTN nhấn mạnh rằng trong việc phòng ngừa tội phạm của NCTN, danh dự cá nhân của họ được tôn trọng và quyền về danh dự, quyền riêng tư, thông tin cá nhân và các quyền và lợi ích pháp lý khác của họ sẽ được bảo vệ. Điều này cho thấy, việc tiếp xúc sớm với hệ thống tư pháp hình sự có thể để lại những hậu quả tiêu cực lâu dài, ảnh hưởng đến sự phát triển cá nhân và cơ hội tái hòa nhập xã hội của NCTN.
Một điểm đáng chú ý là Trung Quốc áp dụng chế độ niêm phong hồ sơ tư pháp cho NCTN. Điều 59 Luật phòng ngừa tội phạm NCTN quy định rằng, sau khi một NCTN bị kết án, hồ sơ của họ sẽ được niêm phong và không được công khai hoặc cung cấp cho bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào, ngoại trừ cơ quan tư pháp trong những trường hợp cần thiết. Các quy định này cũng áp dụng cho hồ sơ của NCTN khi bị áp dụng các biện pháp giáo dục, cải tạo đặc biệt, cũng như các hồ sơ về việc áp dụng các biện pháp kỷ luật hành chính, các biện pháp bắt buộc hình sự…
- Pháp luật Việt Nam:
Luật báo chí năm 2016 quy định nhà báo được hoạt động nghiệp vụ báo chí tại các phiên tòa xét xử công khai; được bố trí khu vực riêng để tác nghiệp; được liên lạc trực tiếp với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng để lấy tin, phỏng vấn theo quy định của pháp luật (điểm d khoản 2 Điều 25). Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cá nhân có quyền với hình ảnh của mình, việc sử dụng ảnh cá nhân phải được người đó đồng ý.
Khoản 11 Điều 6 Luật trẻ em năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2018 quy định về các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có hành vi công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em. Theo Điều 33 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 (Nghị định số 56/2017) quy định chi tiết một số điều của Luật trẻ em thì thông tin bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em là các thông tin về: Tên, tuổi; đặc điểm nhận dạng cá nhân; thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong bệnh án; hình ảnh cá nhân; thông tin về các thành viên trong gia đình, người chăm sóc trẻ em; tài sản cá nhân; số điện thoại; địa chỉ thư tín cá nhân; địa chỉ, thông tin về nơi ở, quê quán; địa chỉ, thông tin về trường, lớp, kết quả học tập và các mối quan hệ bạn bè của trẻ em; thông tin về dịch vụ cung cấp cho cá nhân trẻ em. Khoản 1 Điều 36 Nghị định này quy định về các biện pháp bảo vệ thông tin bí mật đời sống riêng tư cho trẻ em trên môi trường mạng, theo đó, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên môi trường mạng và cá nhân khi đưa thông tin bí mật đời sống riêng tư của trẻ em lên mạng phải có sự đồng ý của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em và trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên; có trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tin của trẻ em.
Đối với việc bảo mật thông tin cá nhân của NCTN trong quá trình tố tụng hình sự, Điều 25 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) quy định: Tòa án xét xử công khai, mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định. Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai. Tại chương về Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi của Bộ luật này cũng có quy định một trong những nguyên tắc tiến hành tố tụng đó là bảo đảm giữ bí mật cá nhân của người dưới 18 tuổi (Điều 414). Trường hợp đặc biệt cần bảo vệ bị cáo, bị hại là người dưới 18 tuổi thì Tòa án có thể quyết định xét xử kín (Ðiều 423).
Như vậy, có thể thấy rằng, Việt Nam đã có những quy định thể hiện tinh thần, mục đích đảm bảo quyền riêng tư của trẻ em nói chung và NCTN trong quá trình tố tụng nói riêng, đặc biệt là NCTN phạm tội. Tuy nhiên, những quy định này còn mang tính chất khái quát, theo hướng nguyên tắc chung mà chưa có các quy định cụ thể, dẫn đến việc thực thi trên thực tế có thể chưa đồng bộ, thống nhất, dẫn đến nguy cơ quyền riêng tư của NCTN bị vi phạm, ảnh hưởng đến quá trình tái hoà nhập sau này của họ.
2. Một số đề xuất
Để đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc bảo mật, bảo vệ quyền riêng tư vì lợi ích tốt nhất cho NCTN, trong thời gian tới, Việt Nam cần cân nhắc quy định cụ thể các nội dung sau trong Luật tư pháp NCTN, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật báo chí và các văn bản hướng dẫn có liên quan, cụ thể:
Thứ nhất, thiết lập các quy định cụ thể giới hạn việc công bố thông tin về NCTN.
Có thể thấy pháp luật của Canada và Trung Quốc đều quy định cụ thể việc cấm công bố, đưa tin có liên quan hoặc có thể suy luận được thông tin cá nhân về tên, chỗ ở, ảnh hoặc hình ảnh của NCTN bị buộc tội, trong các bản tin, phim, chương trình truyền hình hoặc các tác phẩm phổ biến mở, hoặc thông qua mạng máy tính. Điều 33 Nghị định số 56/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật trẻ em đã làm rõ nội hàm thông tin bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em. Tuy nhiên, hiện vẫn còn thiếu quy định về các hành vi công bố, đưa tin bị cấm, đặc biệt là trong tố tụng hình sự. Do đó, nội dung này nên được cụ thể hóa và có thể tham khảo kinh nghiệm của Canada khi quốc gia này có quy định diễn giải theo hướng việc công bố được coi là hành vi truyền đạt thông tin bằng cách làm cho công chúng biết đến hoặc có thể tiếp cận được thông qua mọi phương tiện, bao gồm xuất bản in, radio, truyền hình hoặc phương tiện điện tử. Việc xuất bản cũng bao gồm hành vi công bố thông tin bằng cách sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội như Facebook hoặc Youtube.
Thứ hai, cần quy định chế tài cụ thể đối với hành vi công bố thông tin của NCTN phạm tội trái với quy định pháp luật.
Đạo luật tư pháp hình sự thanh niên của Canada quy định hành vi công bố tên của một người trẻ hoặc bất kỳ thông tin nào liên quan đến một người trẻ bị nghi ngờ, buộc tội hoặc bị xác định là có tội có thể phạt tù đến 02 năm. Do đó, để tăng cường nhận thức, răn đe và đảm bảo thực thi các quy định liên quan đến bảo mật quyền riêng tư, hình ảnh của NCTN phạm tội, đảm bảo sự tái hoà nhập của họ sau tố tụng, thì việc xây dựng các quy định chế tài đặc thù cho hành vi vi phạm quyền riêng tư, thông tin, hình ảnh của NCTN trong tố tụng là cần thiết, có thể là phạt hành chính ở mức cao hoặc thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những trường hợp vi phạm nghiêm trọng, tương tự như pháp luật Canada. Các nền tảng trực tuyến cũng cần được kiểm soát nội dung và gỡ bỏ những thông tin vi phạm ngay khi có yêu cầu từ cơ quan chức năng hoặc cá nhân có liên quan.
Thứ ba, đảm bảo xét xử kín, hạn chế tiếp cận hồ sơ vụ án người chưa thành niên phạm tội.
Hiện nay, Điều 423 BLTTHS năm 2015 quy định trường hợp đặc biệt cần bảo vệ bị cáo, bị hại là người dưới 18 tuổi thì Tòa án có thể quyết định xét xử kín. Tuy nhiên, chưa có văn bản hướng dẫn quy định cụ thể trường hợp đặc biệt là như thế nào, điều này có thể dẫn đến việc tùy nghi áp dụng, ảnh hưởng đến quyền của NCTN. Do đó, để đảm bảo bảo mật thông tin, hình ảnh của NCTN, góp phần tránh những tác động tiêu cực từ truyền thông đến sự tái hòa nhập của họ và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, Việt Nam cần cân nhắc quy định về nguyên tắc việc xét xử kín đối với các vụ án có bị cáo, bị hại là NCTN. Trường hợp ngoại lệ của quy tắc này nên hạn chế tối đa và phải được quy định rõ trong luật. Việc niêm phong hồ sơ vụ án sau khi xét xử cũng cần được quy định cụ thể hơn, trong đó các cơ quan tố tụng chỉ được cung cấp thông tin khi có yêu cầu hợp pháp từ cơ quan chức năng có thẩm quyền. Điều này tương tự với quy định của Trung Quốc, theo đó, hồ sơ NCTN bị xét xử sẽ được bảo mật tuyệt đối để tránh ảnh hưởng đến sự tái hòa nhập của họ trong tương lai.
Nguyễn Hải Yến - Trần Thị Quyên
[1] Ủy ban Quyền trẻ em của Liên hợp quốc, Bình luận chung số 10.
[2] Quy tắc 8.1 Quy tắc Bắc Kinh.
[3] Quy tắc 8.2 Quy tắc Bắc Kinh.
[4] Quy tắc 21.1 Quy tắc Bắc Kinh.
[5] Quy tắc 21.2 Quy tắc Bắc Kinh.
[6] Đạo luật tư pháp hình sự thanh niên. https://laws-lois.justice.gc.ca/eng/acts/Y-1.5/.
[7] Government of Canada, Publication Bans, https://www.justice.gc.ca/eng/cj-jp/yj-jj/tools-outils/sheets-feuillets/publi-publi.html.
[8] 8. Luật bảo vệ nạn nhân trong các vụ án liên quan đến hành vi phạm tội của người chưa thành niên, http://www.npc.gov.cn/zgrdw/englishnpc/Law/2007-12/12/content_1383869.htm.
[9] 9. Luật phòng ngừa tội phạm người chưa thành niên, http://www.npc.gov.cn/englishnpc/c2759/c23934/202105/t20210527_384856.html.
Bài viết chưa có bình luận nào.