Bất cập về ủy thác điều tra và kiểm sát việc ủy thác điều tra

03/07/2026 15:33

(kiemsat.vn)
Qua nghiên cứu và thực tiễn áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 cho thấy quy định về ủy thác điều tra còn nhiều bất cập nhất là trong phân định trách nhiệm giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có thẩm quyền... Qua phân tích vụ án cụ thể, tác giả làm rõ hơn vấn đề bất cập, đồng thời đưa ra kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này.

1. Quy định của pháp luật

Điều 171 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (sau đây gọi tắt là BLTTHS năm 2015) quy định:

“1. Khi cần thiết, Cơ quan điều tra ủy thác cho Cơ quan điều tra khác tiến hành một số hoạt động điều tra. Quyết định ủy thác điều tra phải ghi rõ yêu cầu và gửi cho Cơ quan điều tra được ủy thác, Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát đối với hoạt động điều tra được ủy thác.

2. Cơ quan điều tra được ủy thác phải thực hiện đầy đủ những việc được ủy thác trong thời hạn mà Cơ quan điều tra ủy thác yêu cầu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện ủy thác điều tra. Trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì phải có ngay văn bản nêu rõ lý do gửi Cơ quan điều tra đã ủy thác.

3. Viện kiểm sát có thẩm quyền có trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát đối với hoạt động điều tra được ủy thác và phải chuyển ngay kết quả cho Viện kiểm sát đã ủy thác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra”.

Như vậy, ủy thác điều tra là việc Cơ quan điều tra (CQĐT) có thẩm quyền đang điều tra vụ án giao cho CQĐT khác, nhân danh mình thực hiện một số hoạt động điều tra vụ án hình sự mà mình đang thụ lý điều tra. Trong quá trình điều tra có rất nhiều các điều kiện, hoàn cảnh khách quan tác động đến quá trình điều tra vụ án như thời tiết, địa hình, phong tục, tập quán, đối tượng, thu giữ mẫu vật….

Quyết định uỷ thác điều tra phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định, nội dung, phạm vi, thời hạn yêu cầu ủy thác, trách nhiệm của CQĐT được ủy thác, tên tuổi, chức vụ, chữ ký của người ký quyết định ủy thác. Các quyết định uỷ thác điều tra có thể là quyết định uỷ thác lấy lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; quyết định ủy thác thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử, thu giữ thư tín, điện tín, lấy mẫu vật… Sau khi ra quyết định ủy thác, quyết định uỷ thác phải được gửi cho CQĐT được uỷ thác, Viện kiểm sát cùng cấp với CQĐT được uỷ thác.

Cơ quan điều tra được ủy thác phải thực hiện đầy đủ những việc được ủy thác trong thời hạn mà CQĐT ủy thác yêu cầu. Để đảm bảo việc thực hiện công tác điều tra tuân thủ quy định của BTTHS thì CQĐT được ủy thác phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện ủy thác điều tra. Trong trường hợp không thực hiện được việc uỷ thác (có thể không đúng thẩm quyền, không đủ nhân lực, phương tiện, kỹ thuật…) thì phải có văn bản nêu rõ lý do gửi CQĐT ủy thác.

Viện kiểm sát có thẩm quyền có trách nhiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát đối với hoạt động điều tra của CQĐT được uỷ thác và phải chuyển ngay kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát việc ủy thác điều tra cho Viện kiểm sát đã ủy thác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra.

2. Vướng mắc trong thực tiễn áp dụng

Qua nghiên cứu và thực tiễn cho thấy, BLTTHS năm 2015 chưa có quy định rõ ràng về trình tự, thủ tục, trách nhiệm của CQĐT nhận ủy thác và Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi CQĐT nhận ủy thác.

Tác giả đưa ra một vụ án cụ thể trong thực tiễn, từ đó phân tích để làm rõ những bất cập, vướng mắc này.

Nội dung vụ án: Khoảng 08 giờ ngày 03/12/2019, khi cháu A, sinh ngày 28/4/2007 (là con gái của chị H) ở nhà một mình và xem phim trong phòng ngủ thì Trương Minh S vào phòng xem phim cùng với cháu A. Trong lúc xem phim thì cháu A gác chân lên người S. Thấy vậy, S vòng tay ôm eo cháu A nên cháu A bỏ tay S ra và nói S đi ra ngoài, nhưng S không đi mà ngồi đè lên chân cháu A và sàm sỡ cháu. Thấy vậy, cháu A nói “chú thôi ngay đi, chú mà làm vậy thì con mách mẹ” thì S nói “mày mà mách tao đánh chết”. Do sợ bị đánh nên cháu A nằm im, sau đó S cởi quần cháu A, kéo hai chân cháu A đặt lên đùi S để thực hiện hành vi giao cấu; thấy đau và rát ở bên ngoài bộ phận sinh dục nên cháu A khóc, S dừng lại và lấy áo lau bộ phận sinh dục của cháu A và mặc quần đi ra ngoài rồi trốn khỏi địa phương.

Tại bản kết luận giám định của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Trên chiếc quần lót thu của cháu A có dính tinh trùng. Phân tích được kiểu gen hoàn chỉnh của nam giới.

Sau khi vụ việc xảy ra, gia đình cháu A làm đơn tố cáo. Cơ quan điều tra Công an huyện C đã thụ lý tin báo và ra quyết định ủy thác giải quyết nguồn tin về tội phạm gửi CQĐT Công an huyện M, tỉnh T, nơi đối tượng S cư trú để tiến hành thu thập mẫu tóc của ông Q (cha đẻ của S) và bà B (mẹ đẻ của S) để phục vụ công tác giám định AND.

Tuy nhiên, CQĐT Công an huyện M trả lời kết quả cho CQĐT Công an huyện C với nội dung: Ông Q và bà B không hợp tác, không cung cấp mẫu tóc. Đồng thời, đối tượng S cũng không có mặt tại địa phương.

Ngày 08/4/2022, CQĐT Công an huyện C ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Cùng ngày, CQĐT Công an huyện M tiếp tục ra quyết định ủy thác điều tra cho CQĐT Công an huyện C tiến hành xác minh Trương Minh S hiện nay có mặt tại địa phương không, nếu có thì tiến hành lấy lời khai. Tuy nhiên, đến nay chưa có kết quả.

Qua vụ án nêu trên có thể nhận thấy, quy định về ủy thác điều tra trong BLTTHS năm 2015, tuy có sửa đổi, bổ sung năm 2025 nhưng vẫn chưa triệt để, còn một số vướng mắc, bất cập đó là:

Một là, khoản 2 Điều 171 BLTTHS năm 2015, chưa có quy định cụ thể về phân công thực hiện ủy thác điều tra. Tuy nhiên, theo Điều 30 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định về phối hợp giữa CQĐT và Viện kiểm sát trong việc thực hiện  một số quy định của BLTTHS thì khi nhận được ủy thác điều tra mà xét thấy hoạt động điều tra được ủy thác phức tạp, kéo dài thì CQĐT được ủy thác phải phân công Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều tra viên tiến hành điều tra những việc được ủy thác….

Trong thực tiễn có thể xảy ra các trường hợp khi nhận được quyết định ủy thác điều tra, CQĐT nơi nhận được ủy thác nhận định đây là vụ việc đơn giản nên không ra quyết định phân công người thực hiện mà chỉ giao cho Điều tra viên thực hiện theo yêu cầu của quyết định ủy thác rồi chuyển tài liệu, chứng cứ thu thập được cho CQĐT đã ủy thác. Trong quá trình thực hiện hoạt động tiếp nhận ủy thác không thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi CQĐT nhận ủy thác biết; dẫn đến việc chuyển giao tài liệu, chứng cứ đã thu thập được theo yêu cầu của quyết định ủy thác điều tra không thực hiện đúng theo khoản 5 Điều 88 BLTTHS năm 2015.

Hai là, khoản 1 Điều 171 BLTTHS năm 2015 quy định về chủ thể nhận quyết định ủy thác nhưng không quy định hoạt động của Viện kiểm sát ủy thác.

Trong vụ án nêu trên, Viện kiểm sát nơi xảy ra tội phạm đã thực hiện việc yêu cầu CQĐT ủy thác điều tra, bao gồm lấy lời khai, thu giữ mẫu vật để giám định; CQĐT nơi nhận ủy thác đã thực hiện theo yêu cầu nhưng không có văn bản phản hồi về kết quả thực hiện. Trong trường hợp này, pháp luật cũng không quy định rõ Viện kiểm sát ở nơi xảy ra vụ án được quyền ủy thác cho Viện kiểm sát nơi CQĐT nhận ủy thác để phân công Kiểm sát viên, thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ủy thác điều tra hay không. Điều này dẫn đến việc không có cơ chế kiểm tra, xác định CQĐT nơi nhận ủy thác có thực hiện đúng theo quy định của pháp luật không.

Từ ví dụ nêu trên, có thể thấy rằng, CQĐT nhận ủy thác đã không có kết quả rõ ràng. Trong khi đó, khi ủy thác giải quyết tin báo về tội phạm, họ chỉ có văn bản trả lời gia đình đối tượng không hợp tác nên không thể lấy mẫu vật để giám định. Tuy nhiên, Viện kiểm sát nơi ủy thác lại không nắm được CQĐT nơi nhận ủy thác đã làm hết trách nhiệm hay chưa.

Ba là, trong vụ án nêu trên, thời hạn ủy thác đã hết nhưng không có kết quả trả lời. Vấn đề đặt ra là xử lý như thế nào đối với trường hợp này? Thực tiễn cho thấy, nhiều trường hợp do điều kiện khách quan khiến quyết định uỷ thác được ban hành khi thời hạn uỷ thác đã hết hoặc gần hết dẫn đến CQĐT được ủy thác không thể hoặc không đủ thời gian thực hiện. Pháp luật về tố tụng hình sự hiện nay chưa có quy định đối với những tình huống này; CQĐT nơi ủy thác có được tiếp tục ủy thác hoặc gia hạn thời hạn ủy thác không.

Bên cạnh đó, trong vụ án nêu trên, dù đã hết thời hạn uỷ thác, nhưng CQĐT nơi được ủy thác vẫn chưa hoàn thành việc lấy mẫu vật để giám định nên CQĐT chưa có căn cứ để khởi tố bị can. Trường hợp này thì xử lý thế nào? Hiện nay, pháp luật về tố tụng hình sự cũng chưa có quy định.

Bốn là, BLTTHS năm 2015 chưa quy định rõ về mối quan hệ, quyền, nghĩa vụ giữa Viện kiểm sát nơi uỷ thác và Viện kiểm sát nơi nhận uỷ thác. Điều 171 chỉ quy định: “Viện kiểm sát có thẩm quyền có trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát đối với hoạt động điều tra được uỷ thác và phải chuyển ngay kết quả cho Viện kiểm sát đã uỷ thác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra”.

Tuy nhiên, trong vụ án trên, Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra với CQĐT nơi nhận ủy thác cũng không có văn bản trả lời cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra nơi CQĐT ủy thác nên không thể xác định CQĐT nơi nhận ủy thác đã làm hết trách nhiệm hay chưa.

Do đó, Viện kiểm sát cũng phải thực hiện việc ủy thác thực hành quyền công tố và kiểm sát ủy thác điều tra cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra với CQĐT được ủy thác. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, pháp luật tố tụng hình sự quy định như vậy là chưa hợp lý. Bởi lẽ, việc kiểm sát hoạt động ủy thác của Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra với CQĐT được ủy thác là quyền và nghĩa vụ theo luật định. Tức là, khi CQĐT tiến hành một hoạt động tố tụng thì đương nhiên Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra với CQĐT đó phải tiến hành việc công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của hoạt động tố tụng đó. Việc chuyển kết quả giám sát cho Viện kiểm sát nơi ủy thác chỉ nên được hiểu là hoạt động việc phối hợp giữa hai Viện kiểm sát, do ủy thác chỉ là một phần của vụ án chứ không thuộc trường hợp chuyển toàn bộ vụ án để điều tra theo thẩm quyền. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, nhưng chưa quy định rõ ràng về vấn đề này, dẫn đến Viện kiểm sát nơi CQĐT ủy thác không có cơ sở pháp lý để yêu cầu Viện kiểm sát nhận ủy thác phải thực hiện việc kiểm sát theo đúng quy định pháp luật.

Theo điểm a khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 04/TTLT-BCA-VKSNDTC- TANDTC ngày 27/6/2025 của Bộ Công an, VKSND tối cao và Tòa án nhân dân tối cao quy định phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng thì VKSND khu vực có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đối với vụ việc, vụ án hình sự về các tội ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thụ lý, giải quyết và thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực. Như vậy, không còn VKSND cùng cấp mà chỉ có VKSND khu vực là Viện kiểm sát có thẩm quyền với CQĐT cấp tỉnh cơ quan ủy thác.

Khoản 1 Điều 171 BLTTHS năm 2015 chỉ quy định Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát đối với hoạt động điều tra được ủy thác; không quy định Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra nơi ủy thác được ủy quyền ủy thác cho Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi CQĐT nhận ủy thác để thực hiện việc phân công Kiểm sát viên, thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ủy thác để xác định CQĐT nơi nhận ủy thác theo quy định của pháp luật; đặc biệt là hiện nay VKSND khu vực có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đối với vụ việc, vụ án hình sự về các tội ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng do CQĐT Công an cấp tỉnh thụ lý, giải quyết; dẫn đến khó khăn cho việc thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra trong việc ủy thác.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Từ những bất cập nêu trên, tác giả kiến nghị một số vấn đề sau:

Thứ nhất, cần sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 171 BLTTHS năm 2015, theo hướng: Khi cần thiết, Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi xảy ra vụ án được quyền ủy thác cho Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi CQĐT nhận ủy thác để thực hiện việc phân công Kiểm sát viên, thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ủy thác để xác định CQĐT nơi nhận ủy thác thực hiện đúng yêu cầu của CQĐT nơi ủy thác theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 171 BLTTHS năm 2015 theo hướng: Trong trường hợp do điều kiện khách quan quyết định uỷ thác đã hết hoặc gần hết thời hạn không đủ thời gian để thực hiện công việc được ủy thác thì CQĐT được uỷ thác phải có văn bản trả lời cho CQĐT uỷ thác, nếu còn thời hạn điều tra thì CQĐT ủy thác có thể tiếp tục gửi một quyết định ủy thác khác hoặc nếu hết hạn thời hạn ủy thác thì CQĐT gia hạn quyết định ủy thác để CQĐT nơi nhận ủy thác tiếp tục thực hiện việc ủy thác. Mọi trường hợp thực hiện việc ủy thác CQSĐ nơi nhận ủy thác phải có quyết định phân công Phó Thủ trưởng CQĐT và Điều tra viên để Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ủy thác.

Thứ ba, cần sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 171 BLTTHS năm 2015 theo hướng: Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi ủy thác phải có công văn thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi nhận ủy thác biết về việc ủy thác điều tra để Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi nhận ủy thác điều tra biết để phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố quyết định ủy thác điều tra và Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi nhận ủy thác có trách nhiệm chuyển kết quả ủy thác thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra cho Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi ủy thác điều tra.

Lê Văn Quang

Quy định về đồng phạm đối với pháp nhân thương mại phạm tội theo pháp luật của một số quốc gia

(Kiemsat.vn) - Bài viết phân tích làm rõ khoảng trống pháp lý trong quy định về đồng phạm của pháp nhân thương mại trong Bộ luật Hình sự năm 2015, có sự so sánh với quy định của một số quốc gia; từ đó, rút ra một số khuyến nghị cho Việt Nam để hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về đồng phạm.
(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang