1. Quy định về đồng phạm của một số quốc gia trên thế giới
1.1. Hoa Kỳ
Trong luật pháp Hoa Kỳ, trách nhiệm hình sự của pháp nhân được xác lập dựa trên nguyên tắc “respondeat superior” (có thể được dịch là “người chủ phải chịu trách nhiệm”). Theo nguyên tắc này, một pháp nhân có thể bị buộc tội nếu một nhân viên, đại diện hoặc bất kỳ ai hành động trong phạm vi nhiệm vụ được giao và vì lợi ích của pháp nhân, đã thực hiện hành vi phạm tội. Điều này được quy định chi tiết trong Điều 2 Mục 18 của Bộ luật Hoa Kỳ[1] (18 U.S. Code §2). Điều luật này cũng đồng thời phân loại và định nghĩa đồng phạm dựa trên hai hình thức chính:
- Giúp sức và xúi giục (Aiding and Abetting): Bất kỳ người nào giúp sức, xúi giục, chỉ đạo hoặc ra lệnh thực hiện một tội phạm có thể bị xét xử như là người đã thực hiện tội phạm đó. Điều này có nghĩa là nếu một người cung cấp sự hỗ trợ thiết yếu hoặc tạo điều kiện cho việc phạm tội, họ có thể bị xem là đồng phạm và chịu trách nhiệm pháp lý tương đương với người đã thực hiện hành vi phạm tội trực tiếp.
- Gây ra hành động (Causing an Act): Bất kỳ người nào thông qua một hành động hoặc không hành động khiến cho người khác thực hiện tội phạm. Điều này áp dụng cho các tình huống mà một người không trực tiếp tham gia vào hành động phạm tội nhưng tạo ra các điều kiện hoặc ra lệnh khiến tội phạm được thực hiện bởi người khác.
Cần lưu ý cụm từ “người” (person) trong Bộ luật Hoa Kỳ được hiểu là hai loại: Thể nhân (natural person) và pháp nhân (legal person).
1.2. Vương quốc Anh
Ở Anh, trách nhiệm hình sự của pháp nhân được xác định thông qua nguyên tắc “the identification doctrine” (nguyên tắc nhận dạng). Nguyên tắc này xác định pháp nhân có thể bị truy tố nếu các cá nhân đóng vai trò “điều khiển suy nghĩ và ý chí” (directing mind and will) của pháp nhân tham gia vào hành vi phạm tội. Ví dụ điển hình phải kể đến là vụ án Tesco Supermarkets Ltd v. Nattrass (1972), theo đó, chỉ có những cá nhân ở cấp quản lý cao nhất, những người đại diện cho công ty thực hiện hành vi phạm tội mới khiến công ty phải chịu trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, nguyên tắc này trên thực tiễn gặp nhiều thách thức vì khó áp dụng cho các pháp nhân có quy mô tổ chức lớn và quyết định có thể được phân tán qua nhiều cấp bậc. Điều đó làm cho việc xác định vai trò “điều khiển suy nghĩ và ý chí” của công ty trở nên phức tạp và khó khăn hơn. Nguyên tắc này cũng có thể tạo ra một “lỗ hổng” pháp lý cho phép các pháp nhân trốn tránh trách nhiệm hình sự bằng cách phân bổ trách nhiệm cho những nhân viên cấp thấp hơn, những người không được coi là có vai trò “điều khiển suy nghĩ và ý chí” của pháp nhân.
Về đồng phạm, pháp luật Anh có những quy định cụ thể điều chỉnh vấn đề này. Cụ thể, Luật hình sự năm 1977 của Vương quốc Anh đã cung cấp cơ sở pháp lý từ rất sớm cho việc xử lý các trường hợp cấu kết phạm tội tại Điều 45 Mục 1 như sau[2]: “Nếu một người đồng ý với một người khác hoặc nhiều người khác rằng một hành vi nào đó sẽ được tiến hành, mà nếu sự thỏa thuận đó được thực hiện theo đúng ý định của họ và thuộc một trong hai trường hợp: (a) Sẽ chắc chắn dẫn đến hoặc liên quan đến việc phạm một hoặc nhiều tội phạm bởi một hoặc nhiều bên tham gia vào thỏa thuận, hoặc (b) Sẽ xảy ra nếu không có sự xuất hiện của sự kiện nào làm cho việc phạm tội đó không thực hiện được, thì người đó được coi là cấu kết phạm một hoặc nhiều tội”. Điều luật này áp dụng cho cá nhân và mặc dù không trực tiếp đề cập đến pháp nhân, nhưng pháp nhân có thể bị coi là tham gia vào một âm mưu cấu kết phạm tội nếu có bằng chứng rằng các hành động được thực hiện nhân danh và vì lợi ích của pháp nhân.
1.3. Trung Quốc
Ở Trung Quốc, vấn đề đồng phạm được ghi nhận tại Điều 25 và một số điều khoản có liên quan khác Bộ luật Hình sự (BLHS)[3]. Các quy định này nhằm mục đích xác định trách nhiệm pháp lý của những chủ thể cùng tham gia thực hiện một tội phạm hoặc hỗ trợ vào việc phạm tội. Cụ thể, Điều 25 BLHS Trung Quốc năm 1997 quy định: “Đồng phạm được định nghĩa là các trường hợp hai người trở lên cùng tham gia thực hiện một tội phạm. Các đối tượng có thể bao gồm người tổ chức, người thực hành, người giúp sức, và người xúi giục”. Tuy nhiên, khái niệm đồng phạm nêu trên chỉ được ghi nhận đối với chủ thể là thể nhân. Mặc dù pháp luật hình sự Trung Quốc đã ghi nhận trách nhiệm hình sự của “cơ quan, đơn vị và tổ chức” tại Điều 30, Điều 31 mục 4 Chương II Phần chung BLHS năm 1997, tuy nhiên “cơ quan, đơn vị và tổ chức” xử lý hình sự dựa trên các hành vi cụ thể của cá nhân là người đại diện hoặc là người thuộc cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện hành vi đó trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, nhân danh pháp nhân và mang lại lợi ích cho pháp nhân đó, không chỉ riêng cá nhân họ. Theo các nhà làm luật tại Trung Quốc, đồng phạm thường liên quan đến sự tham gia trực tiếp và có lỗi cố ý của các cá nhân trong việc phạm tội. Do đó, một trong những thách thức lớn trong việc áp dụng đồng phạm cho pháp nhân là xác định ý chí phạm tội của một tổ chức. Trong khi cá nhân có thể bày tỏ ý chí rõ ràng thông qua lời nói hoặc hành động, thì ý chí của một pháp nhân phụ thuộc vào quyết định của nhiều cá nhân và thường “ẩn” sau các quyết định chính thức. Thay vì quy định về đồng phạm, pháp luật hình sự Trung Quốc có các quy định về áp dụng hình phạt đối với pháp nhân (hình phạt tiền, cấm hoạt động kinh doanh, giải thể hoặc đóng cửa, buộc thực hiện các biện pháp phục hồi và bồi thường) dựa trên các hành vi cụ thể mà các cá nhân trong tổ chức đó thực hiện theo quy định của pháp luật, đảm bảo rằng pháp nhân đó có thể bị xử lý một cách công bằng, thỏa đáng.
2. Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về đồng phạm
Theo Điều 17 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 (gọi tắt là BLHS năm 2015) thì đồng phạm được hiểu là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Cụ thể, người đồng phạm có thể bao gồm: Người thực hành; người tổ chức; người xúi giục và người giúp sức. Trong một vụ án hình sự, không phải trường hợp nào cũng phải có đủ bốn người đồng phạm nêu trên.
Khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015 quy định, đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Việc ghi nhận chủ thể là “hai người” tức là thể nhân có thể tạo ra cách hiểu rằng đồng phạm không áp dụng cho pháp nhân thương mại phạm tội. Bên cạnh đó, quy định tại khoản 1 Điều này chỉ rõ 03 dấu hiệu của đồng phạm để phân biệt với trường hợp phạm tội đơn lẻ, trong đó xét về mặt chủ quan thì đồng phạm chỉ xảy ra đối với trường hợp phạm tội do cố ý, có nghĩa là phải xác định rõ mục đích và ý chí của những người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội. Họ đều ý thức được rằng, hành động của mình là một bộ phận trong quá trình thực hiện vụ đồng phạm; là tiền đề, điều kiện cho hành động của người đồng phạm khác.
Mặt khác, Điều 8 BLHS năm 2015 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý…”. Như vậy, cả hai chủ thể là “người có năng lực trách nhiệm hình sự” và “pháp nhân thương mại” đều được ghi nhận là chủ thể thực hiện hành vi phạm tội.
Từ phân tích trên cho thấy sự không thống nhất giữa Điều 17 và Điều 8 BLHS năm 2015, dẫn đến có nhiều quan điểm, nhận thức khác nhau về việc xác định đồng phạm trong BLHS.
So sánh với quy định về đồng phạm của Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Trung Quốc thấy rằng, quy định về đồng phạm trong BLHS năm 2015 của Việt Nam có sự khác biệt rõ ràng so với pháp luật Hoa Kỳ, Vương quốc Anh nhưng có sự tương đồng nhất định với pháp luật Trung Quốc khi ghi nhận thuật ngữ “người” chỉ dành cho đối tượng là thể nhân và không đặt ra vấn đề đồng phạm đối với pháp nhân thương mại.
Theo tác giả, pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự thông qua hành vi phạm tội của thể nhân. Thể nhân đó có thể là người làm công, nhân viên, người đại diện, lãnh đạo, quản lý, điều hành (nhân viên cao cấp) của pháp nhân thương mại. Những người này đã thực hiện hành vi cấu thành tội phạm theo pháp luật hình sự của quốc gia. Không có hành vi của thể nhân thì không có trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Ví dụ, để thiết lập sự hiện diện của ý định trong các hoạt động của pháp nhân, luật hình sự Hoa Kỳ yêu cầu xem xét các hành động của nhân viên và truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân, nếu nhân viên đã hành động, thuộc thẩm quyền của mình và thứ hai, với mục đích mang lại lợi ích cho pháp nhân. Chính vì vậy, tác giả cho rằng đồng phạm chỉ nên đặt ra cho đối tượng là thể nhân và pháp nhân thương mại có thể bị coi là đối tượng liên đới chịu trách nhiệm hình sự tương ứng nếu cá nhân thuộc pháp nhân đó thực hiện hành vi được coi là đồng phạm và mang lợi ích cho pháp nhân đó.
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất bổ sung khoản 5 Điều 17 BLHS năm 2015 theo hướng: “... 5. Người nào thuộc pháp nhân thương mại, bao gồm cả người có vị trí lãnh đạo, khi tham gia thực hiện, hoặc tổ chức, hoặc xúi giục, hoặc hỗ trợ, tạo điều kiện cho hành vi phạm tội cũng sẽ bị coi là đồng phạm và pháp nhân thương mại đó có thể phải liên đới chịu trách nhiệm hình sự”. Sử dụng cụm từ “có thể” bởi vì để pháp nhân thương mại liên đới chịu trách nhiệm hình sự cần phải chứng minh thêm hành vi của cá nhân thuộc pháp nhân thương mại được coi là đồng phạm đáp ứng các dấu hiệu[4]: (i) Nhân danh pháp nhân thương mại; (ii) Cá nhân có “mối quan hệ đặc biệt” với pháp nhân thương mại; (iii) Cá nhân thuộc pháp nhân thương mại thực hiện hành vi phạm tội trong khi tiến hành công việc được pháp nhân thương mại giao và việc xảy ra hành vi phạm tội này có phần lỗi của pháp nhân.
Bên cạnh đó, tại điểm a khoản 1 Điều 85 BLHS năm 2015: “Câu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội”. Có quan điểm cho rằng, “câu kết” là “hợp lại với nhau thành phe cánh để cùng thực hiện âm mưu xấu xa”[5], cách giải thích này phù hợp với đặc trưng tội phạm trong BLHS mà theo đó, “câu kết” phải được hiểu là “cùng cố ý” thực hiện một tội phạm. Vậy, “câu kết” theo khoản 1 Điều 85 Bộ luật này có đồng nhất với vai trò là đồng phạm không? Nếu không coi là đồng phạm theo Điều 17 Bộ luật này thì căn cứ vào đâu để xác định trách nhiệm pháp lý khi pháp nhân thương mại có hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức tội phạm? Có thể thấy, nếu không được quy định, hướng dẫn, giải thích cụ thể thì sẽ gây khó khăn khi xác định tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 85 BLHS năm 2015 và việc xác định đồng phạm đối với pháp nhân thương mại quy định tại Điều 17 Bộ luật này. Tác giả cũng đề xuất sửa đổi điểm a khoản 1 Điều 85 BLHS năm 2015 thành: “Phải liên đới chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp đồng phạm theo quy định tại khoản 5 Điều 17”.
Nguyễn Hoàng Chi Mai
[1] 18 U.S. Code §2 - Principals,” Cornell Law School Legal Information Institute, accessed on 28/3/2025 to: https://www.law.cornell.edu/uscode/text/18/2.
[2] Criminal Law Act 1977, c. 45, sec. 1,” Legislation.gov.uk, The National Archives, accessed on 28/3/2025 to https://www.legislation.gov.uk/ukpga/1977/45/section/1.
[3] Bộ luật Hình sự Trung Quốc năm 1997, xem thêm tại: https://fdvn.vn/tong-hop-bo-luat-hinh-su-cua-mot-so-nuoc-tren-the-gioi-bang-tieng-anh.
[4] Nguyễn Ngọc Hòa (2022), Trách nhiệm hình sự, hình phạt và các biện pháp hình sự khác, Nxb. Tư pháp, tr. 21-22.
[5] Nguyễn Thị Hằng (2024), “Xác định đồng phạm đối với pháp nhân thương mại phạm tội - Vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện”, xem thêm tại: https://tapchitoaan.vn/mot-so-vuong-mac-trong-xac-dinh-dong-pham-doi-voi-phap-nhan-thuong-mai-pham-toi-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-hinh-su-nam-2015-va-de-xuat-kien-nghi-hoan-thien11939.html#:~:text=Theo%20%C4%91%C3%B3%2C%20c%E1%BA%A7n%20kh%E1%BA%B3ng%20%C4%91%E1%BB%8Bnh,v%C3%A0%20ph%C3%A1p%20nh%C3%A2n%20th%C6%B0%C6%A1ng%20m%E1%BA%A1i.
Bài viết chưa có bình luận nào.