1. Một số lưu ý khi áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ xem xét, thẩm định tại chỗ trong giải quyết các vụ án tranh chấp đất đai
Xem xét, thẩm định tại chỗ là việc Toà án đến tận nơi có tài sản đang tranh chấp để tiến hành thu thập tài liệu, chứng với sự chứng kiến của đại diện Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức, nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định. Qua việc xem xét thẩm định tại chỗ, Thẩm phán có cách nhìn, cách tiếp cận đầy đủ, toàn diện về nguồn gốc, quá trình sử dụng và hiện trạng việc sử dụng đất, cụ thể: Xác định do ai quản lý; vị trí, kích thước, hình dạng thửa đất tranh chấp; tình trạng thửa đất và tài sản gắn liền với đất, việc đầu tư cơi nới, sửa chữa so với ban đầu, nguồn gốc hình thành tài sản... Qua đó, Thẩm phán có cơ sở đưa ra phán quyết hợp tình, hợp lý, đúng quy định của pháp luật.
Từ thực tiễn giải quyết các vụ án tranh chấp đất đai, tác giả thấy rằng để thực hiện hiệu quả biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ, Thẩm phán cần lưu ý những nội dung sau:
- Xác định điều kiện thực hiện biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp:
Mặc dù đây là một biện pháp thu thập chứng cứ quan trọng, nhưng không phải vụ việc tranh chấp đất đai nào Thẩm phán cũng tiến hành việc xem xét thẩm định tại chỗ, mà phải xuất phát từ những điều kiện nhất định. Theo khoản 1 Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015, Thẩm phán thực hiện biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ trong hai trường hợp là khi có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết. Trên thực tế, không phải vụ việc nào đương sự trong vụ án (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) cũng có yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ, vì vậy Toà án phải giải thích, hướng dẫn cho đương sự thực hiện quyền yêu cầu để làm cơ sở cho Thẩm phán thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngoài ra, đối với một số trường hợp mặc dù đương sự không yêu cầu nhưng quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán xét thấy cần thiết thì vẫn có thể tiến hành biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ. Hiện chưa có quy định cụ thể về trường hợp "cần thiết" là như thế nào, tuy nhiên thực tiễn công tác cho thấy, "cần thiết" là những trường hợp nếu không thực hiện biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ thì Thẩm phán khó đưa ra phán quyết giải quyết vụ án chính xác, dễ phát sinh những khó khăn trong quá trình thi hành án.
Ngoài ra, pháp luật tố tụng dân sự chưa có quy định cụ thể yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ của đương sự phải thực hiện bằng hình thức nào. Trên thực tế, Thẩm phán thường yêu cầu đương sự thực hiện bằng văn bản; văn bản có thể được thể hiện qua đơn yêu cầu hoặc trong bản tự khai, bản lấy lời khai đương sự của Tòa án. Đối với những trường hợp đương sự không thể làm đơn thì Thẩm phán có thể lấy lời khai về nội dung này và lưu vào hồ sơ vụ án.
- Về việc chuẩn bị cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ:
Sau khi xác định được điều kiện để làm cơ sở thực hiện việc xem xét thẩm định tại chỗ, tập trung vào một số nội dung như sau:
Một là, thông báo cho đương sự nộp tạm ứng chi phí thẩm định tại chỗ. Hiện nay, pháp luật chưa có quy định cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục thu, chi liên quan đến loại chi phí này nên quá trình thực hiện của Thẩm phán còn gặp khó khăn và thiếu thống nhất. Thực tiễn cho thấy, Thẩm phán thường xem xét đến các khoản chi như: Chi phí thuê phương tiện đi lại của Hội đồng, chi phí đo vẽ tài sản tranh chấp; chi phí bồi dưỡng cho các thành viên Hội đồng thẩm định (đại diện UBND cấp xã, Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định (nếu có) tham gia xem xét, thẩm định). Mức chi tùy thuộc vào mức độ phức tạp, khó khăn của vụ việc, đặc điểm tài sản tranh chấp và các Thẩm phán phải dự liệu phù hợp, quyết toán rõ ràng, minh bạch, có bảng kê chi tiết nội dung chi, mức chi, ký xác nhận của các thành phần liên quan; mức chi và nghĩa vụ chịu chi phí phải được xác định rõ ràng trong bản án, quyết định trên cơ sở quy định pháp luật. Điều này tránh trường hợp đương sự có khiếu kiện, khiếu nại về vấn đề chi phí xem xét, thẩm định.
Mặc dù pháp luật tố tụng dân sự không quy định và hiện chưa có hướng dẫn thủ tục thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, nhưng Thẩm phán cần soạn thảo thông báo nêu rõ hậu quả pháp lý đối với trường hợp đương sự không nộp tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 217; Điều 218 BLTTDS năm 2015. Theo đó, nếu nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thì Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố nhưng không nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thì Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn. Nếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ thì Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu độc lập. Ngoài ra, thông báo cũng cần nêu rõ hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án do đương sự không nộp tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Cụ thể, đương sự không có quyền khởi kiện lại để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật tranh chấp. Hậu quả pháp lý của đình chỉ giải quyết yêu cầu, vụ án đối với trường hợp đương sự không nộp tiền chi phí tố tụng không chỉ được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217, Điều 218 BLTTDS năm 2015 mà còn được hướng dẫn cụ thể tại Giải đáp nghiệp vụ số 01/2018/GĐ-TANDTC, ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân tối cao như sau: “Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án chỉ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp “nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này”.
Hai là, thông báo cho các đương sự và những người có liên quan về thời gian, địa điểm thực hiện việc thẩm định. Sau khi thực hiện các thủ tục liên quan đến việc xác định căn cứ xem xét thẩm định, thu tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, Thẩm phán cần thông báo cho những cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan và các đương sự được biết thời gian, địa điểm tiến hành xem xét thẩm định để đảm bảo quyền tham gia, chứng kiến việc xem xét thẩm định của họ và thủ tục xem xét, thẩm định theo đúng quy định của BLTTDS năm 2015. Việc thông báo thực hiện bằng văn bản và được giao cho đương sự theo đúng quy định pháp luật; nếu việc thông báo không hợp lệ thì Thẩm phán không được tiến hành xem xét, thẩm định.
- Tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ:
Trong các vụ án tranh chấp đất đai thường có sự không thống nhất giữa các đương sự về nguồn gốc đất, tài sản trên đất; sự khác nhau giữa hồ sơ pháp lý và hiện trạng thực tế của tài sản tranh chấp, điều này đòi hỏi Thẩm phán trong quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ phải làm rõ những mâu thuẫn này và phản ánh một cách đầy đủ, chi tiết những vấn đề mâu thuẫn vào biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ. Do đó, việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được tiến hành thận trọng, tỉ mỉ, chính xác, vẽ sơ đồ mô tả chi tiết hiện trạng, kích thước ranh giới tứ cận; có sự so sánh, đối chiếu giữa thực tế với kích thước trong hồ sơ pháp lý về đất đai, kích thước đương sự yêu cầu; số lượng, hiện trạng các tài sản trên đất, không được bỏ qua bất cứ chi tiết nào dù là nhỏ nhất. Việc đo vẽ có thể do Thẩm phán và người tham gia xem xét, thẩm định thực hiện hoặc huy động cán bộ chuyên môn sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dụng để đo vẽ, tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể từng vụ án mà Thẩm phán quyết định. Điều này liên quan đến kỹ năng xác định thành phần tham gia xem xét, thẩm định của Thẩm phán. Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được lập biên bản, phản ánh đầy đủ thành phần tham gia, nội dung kết quả xem xét, thẩm định. Thẩm phán phải yêu cầu đương sự và những người tham gia ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản; đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng xem xét, thẩm định ký tên, đóng dấu xác nhận.
Vì xem xét thẩm định tài sản tranh chấp là đất đai và các tài sản trên đất thường rất phức tạp, Thẩm phán phải dự liệu hết các tình huống xảy ra để có biện pháp ứng phó kịp thời. Trong trường hợp cần thiết có thể yêu cầu chính quyền địa phương, lực lượng chức năng can thiệp, bảo đảm thực hiện được việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Đối với những hành vi cản trở việc xem xét, thẩm định, Thẩm phán tiến hành lập biên bản làm cơ sở xử lý theo quy định pháp luật.
2. Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn
- Sự chống đối, thiếu hợp tác của đương sự và những người liên quan trong vụ án: Một số trường hợp còn diễn ra tình trạng đương sự không hợp tác, gây cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ như: Trốn tránh, vắng mặt tại buổi xem xét, thẩm định; đóng cổng, đóng cửa không cho Hội đồng thẩm định làm việc; thậm chí, có nhiều trường hợp có các hành vi chống đối, đập phá máy móc, phương tiện không cho cán bộ chuyên môn thực hiện việc đo vẽ, hành hung những người tiến hành tố tụng, ngăn cản không cho thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Sự bất hợp tác, cản trở hoạt động tố tụng này của Tòa án từ phía đương sự gây ra nhiều khó khăn cho Thẩm phán trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ, dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài.
Mặt khác, theo khoản 1 Điều 101 BLTTDS năm 2015 thì việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải lập biên bản ghi rõ kết quả xem xét thẩm định; biên bản mô tả rõ hiện trường có chữ ký của những người tham gia; chữ ký và điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt. Tuy nhiên, có nhiều vụ việc hiện trạng tài sản tranh chấp là quyền sử dụng đất có hình thửa phức tạp, cần nhiều thời gian đo vẽ, tính toán nên việc lập biên bản thẩm định có chữ ký, điểm chỉ ngay của các thành phần tham gia khi tiến hành gặp nhiều khó khăn. Trường hợp sau khi cơ quan chuyên môn đã tính toán, đo vẽ hiện trạng tài sản xong mới tiến hành ký biên bản thì nhiều trường hợp đương sự lại không đồng ý ký biên bản nếu kết quả thẩm định bất lợi cho họ.
- Sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong hoạt động thẩm định tại chỗ còn có sự bất cập: Do khối lượng công việc chuyên môn nhiều nên chính quyền địa phương và các ngành chức năng thường gặp khó khăn trong việc cử thành viên tham gia Hội đồng thẩm định, định giá tài sản; thực tế có nhiều ngành không bố trí được thành viên tham gia hoặc cử thành viên tham gia chậm; một số trường hợp dù được cơ quan quản lý cử tham gia nhưng từ chối tham gia hoặc tham gia thiếu trách nhiệm, nhất là đối với các vụ án đương sự chống đối, không hợp tác. Chính vì vậy, có vụ án từ khi thành lập Hội đồng thẩm định đến lúc hoàn thành việc xem xét, thẩm định tại chỗ thường mất nhiều thời gian, có trường hợp phải hoãn nhiều lần, làm thời hạn giải quyết vụ án bị kéo dài. Cơ quan chuyên môn nhiều lúc thiếu sự chuẩn bị chu đáo các công cụ phương tiện phục vụ việc xem xét, thẩm định nên kết quả thực hiện không đảm bảo, phải thẩm định nhiều lần gây khó khăn, tốn kém cho đương sự.
- Một số quy định liên quan đến thủ tục xem xét, thẩm định chưa rõ ràng, thiếu cụ thể gây khó khăn cho việc thực hiện: Theo quy định của BLTTDS thì đương sự có yêu cầu xem xét, thẩm định tài sản tranh chấp phải nộp tạm ứng chi phí thẩm định. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp đương sự không tự nguyện nộp và pháp luật chưa quy định rõ số tiền tạm ứng chi phí mà đương sự phải nộp cho mỗi lần xem xét, thẩm định và trình tự thủ tục thu chi tạm ứng nên thực tiễn gặp khó khăn, thiếu thống nhất trong thực hiện. Trong các khoản chi liên quan đến việc thẩm định như chi bồi dưỡng cho thành phần tham gia thẩm định, định giá do không có quy định cụ thể nên còn tùy nghi, theo ý chí chủ quan của Thẩm phán. Ngoài ra, có những vụ án phải xem xét, thẩm định nhiều lần hoặc phải hoãn vì lý do khách quan thì việc chi trả cho các thành phần tham gia cũng bất cập. Điều này dẫn trường hợp khi đương sự có những khiếu nại liên quan đến chi phí thẩm định, định giá tài sản Thẩm phán thiếu cơ sở pháp lý giải trình.
3. Kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ
Thứ nhất, đối với vấn đề đương sự không hợp tác, cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp: Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật để đương sự hiểu, nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc phối hợp với Tòa án trong quá trình thực hiện việc xem xét thẩm định tại chỗ; huy động sự vào cuộc của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể để tuyên truyền vận động, thuyết phục các đối tượng chống đối, không hợp tác, gây cản trở cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Đồng thời, đối với những trường hợp đương sự có hành vi chống đối có đầy đủ dấu hiệu vi phạm pháp luật, Thẩm phán cần kiên quyết lập biên bản sự việc, củng cố chứng cứ để xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật, trong trường hợp cần thiết có thể xử lý hình sự nếu đủ căn cứ để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Ứng dụng các phương tiện kỹ thuật, công nghệ hiện đại như dữ liệu vệ tinh, flycam để phục vụ việc xem xét, thẩm định đối với những tài sản có khối lượng lớn, phạm vi rộng như đất lâm nghiệp hoặc tài sản có địa hình phức tạp, hiểm trở.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan đến việc thực hiện thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ: (i) Đối với quy định của BLTTDS năm 2015: Cần có văn bản hướng dẫn quy định rõ nguyên tắc, quy trình thu chi và thủ tục quyết toán các chi phí xem xét, thẩm định, định giá tài sản để đảm bảo sự thống nhất trong thực tiễn áp dụng. Cần quy định theo hướng đối với những trường hợp đương sự không yêu cầu xem xét, thẩm định nhưng xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì Thẩm phán có thể chủ động thực hiện việc xem xét, thẩm định và chí phí đối với trường hợp này do bên thua kiện phải chịu. Đồng thời, có chính sách mở rộng các chủ thể có quyền thực hiện chức năng xem xét, thẩm định tại chỗ, nhất là đối với khu vực tư nhằm phục vụ hiệu quả hoạt động tố tụng của Toà án. (ii) Đối với các quy định có liên quan như Luật xử lý vi phạm hành chính: Cần quy định rõ, chi tiết thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức xử lý hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của người tiến hành tố tụng quy định tại khoản 6 Điều 489 BLTTDS năm 2015 có cơ sở xử lý; cần có chế tài xử lý nghiêm khắc đối với các cơ quan, tổ chức không thực hiện hoặc chậm thực hiện việc cử thành viên tham gia hội đồng thẩm định, định giá tài sản làm việc giải quyết vụ án kéo dài.
Thứ ba, tăng cường trách nhiệm, mối quan hệ phối hợp với các cơ quan có liên quan trong thực hiện biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ: Tòa án các cấp cần chủ động xây dựng và ký kết quy chế phối hợp với Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Trong nội dung quy chế cần ràng buộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân và các phòng chuyên môn trực thuộc trong việc phối hợp cung cấp tài liệu, chứng cứ trong việc cử thành viên tham gia Hội đồng thẩm định, định giá tài sản khi Toà án có yêu cầu. Đối với những trường hợp cố tình không hợp tác, Toà án cần báo cáo cấp ủy địa phương để có chỉ đạo tháo gỡ, giải quyết kịp thời, không để việc xem xét, thẩm định tại chỗ chậm thực hiện làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng giải quyết vụ án.
Thứ tư, hệ thống Toà án nhân dân các cấp cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ: Cần quan tâm đến việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng xét xử cho đội ngũ cán bộ Tòa án, nhất là đối với Thẩm phán bằng việc tăng cường tổ chức các hội nghị tập huấn chuyên đề về giải quyết tranh chấp đất đai; tổ chức các phiên tòa xét xử trực tuyến vụ án dân sự liên quan đến đất đai.
Nguyễn Thành Nhân
--------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 ngày 18/8/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng.
2. Nguyễn Thị Hạnh - Hà Hữu Dụng, "Kỹ năng áp dụng biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ của Thẩm phán trong xây dựng hồ sơ vụ án dân sự", Tạp chí Nghề Luật, số 14, 2020.
3. Tưởng Duy Lượng (2017), "Bình luận Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật trọng tài thương mại và thực tiễn xét xử", Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
4. Nguyễn Thị Thu Sương, "Trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong tố tụng dân sự", Tạp chí Kiểm sát, số 03, 2021, tr.31-32.
5. Nguyễn Vinh Hưng, "Nghĩa vụ chứng minh trong BLTTDS năm 2015", Tạp chí Kiểm sát,
số 20, tr.6.
Bài viết chưa có bình luận nào.