Quyền được thông báo, giải thích quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự

15/12/2025 12:00

(kiemsat.vn)
Quyền được thông báo, giải thích quyền của người bị buộc tội là một đảm bảo cơ bản cho sự tự chủ của họ trong việc thực hiện quyền; đồng thời, nhằm tránh trường hợp vi phạm quyền và ngăn cản thực hiện quyền. Tuy nhiên, quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành còn một số hạn chế nhất định dẫn đến việc thực thi chưa hiệu quả.

1. Về quyền được thông báo, giải thích quyền của người bị buộc tội

Quyền được thông báo, giải thích quyền là một quyền cơ bản của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam. Các điều 58, 59, 60 và 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (gọi tắt là BLTTHS năm 2015) quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội, bao gồm người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, các chủ thể này đều có quyền “được thông báo, giải thích về quyền” và nghĩa vụ.

Chuẩn mực quốc tế về quyền con người trong tố tụng hình sự hiện nay chưa ghi nhận chính thức về quyền được thông báo, giải thích quyền của người bị buộc tội. Điều 14 Công ước các quyền chính trị và dân sự (International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR), Điều 6 Công ước Châu Âu về nhân quyền (European Convention on Human Rights - ECHR) quy định về quyền được xét xử công bằng không đề cập đến quyền được thông báo, giải thích các quyền mà chỉ đề cập đến quyền được thông báo, giải thích về cáo buộc chống lại người bị buộc tội. Do đó, có thể thấy, việc ghi nhận chính thức quyền được thông báo, giải thích quyền là một tiến bộ của pháp luật Việt Nam trong việc bảo vệ người bị buộc tội trong tố tụng hình sự.

Quyền được thông báo, giải thích về quyền hướng đến việc người bị buộc tội, hiểu biết về các quyền của họ trong tố tụng hình sự, sự hiểu biết này có 02 giá trị cơ bản là sự tự quyết trong việc sử dụng các quyền và khả năng chống lại sự vi phạm các quyền.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng tại Điều 16: “Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này” và Điều 71: “Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này”.

Người bị buộc tội bao gồm: Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Cả bốn chủ thể này đều được trao quyền được thông báo, giải thích quyền. Tuy nhiên, việc thông báo, giải thích này lại chỉ được quy định vào các thời điểm khác nhau đối với từng chủ thể.

Đối với người bị tạm giữ, theo khoản 3 Điều 117 BLTTHS năm 2015, khi thực hiện việc tạm giữ, người thi hành quyết định tạm giữ phải thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ quy định tại Điều 59 của Bộ luật này.

Đối với người bị bắt, BLTTHS năm 2015 chỉ quy định về việc thông báo, giải thích quyền đối với người bị bắt trong trường hợp bắt để tạm giam. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 113 BLTTHS năm 2015, người thi hành lệnh, quyết định bắt phải giải thích lệnh, quyết định, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt. Đối với các trường hợp bắt khác như bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã thì BLTTHS chưa quy định cụ thể về quy trình, thời điểm, người thực hiện việc thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ. Tuy nhiên, theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA ngày 08/12/2021 của Bộ Công an quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự (Thông tư số 119/2021), tại Mẫu số 65 về biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Mẫu số 67 về biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đều quy định việc người thi hành lệnh giữ, lệnh bắt phải thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ đối với người bị giữ, người bị bắt.

Ngoài ra, cũng theo Thông tư số 119/2021, Mẫu số 140 về biên bản ghi lời khai người tham gia tố tụng nói chung, bao gồm cả người bị tạm giữ, người bị bắt trong tất cả các trường hợp, cũng nêu nội dung thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ cho người được lấy lời khai và người được lấy lời khai ký tên xác nhận việc này. Do đó, về cơ bản, nếu người tiến hành tố tụng tuân thủ các mẫu biên bản này thì người bị tạm giữ, người bị bắt đều sẽ được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ của mình.

Đối với bị can, theo Điều 183 BLTTHS năm 2015, trong lần hỏi cung đầu tiên, Điều tra viên có nghĩa vụ phải thông báo, giải thích quyền, nghĩa vụ được quy định tại Điều 60 BLTTHS năm 2015 cho bị can. Việc thông báo, giải thích quyền này phải được ghi nhận trong biên bản hỏi cung theo Mẫu số 139 của Thông tư số 119/2021; đồng thời, bị can sẽ ký tên xác nhận cho việc này. Trong trường hợp Kiểm sát viên hỏi cung thì cũng thực hiện tương tự theo Mẫu số 126 của Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09/01/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành mẫu văn bản tố tụng, văn bản nghiệp vụ thực hiện trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố.

Đối với bị cáo, theo Điều 301 BLTTHS năm 2015, chủ tọa phiên tòa phải phổ biến quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia phiên tòa, bao gồm bị cáo. Việc phổ biến này được ghi nhận vào biên bản phiên tòa theo Mẫu số 22, theo quy định tại Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19/9/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về ban hành một số biểu mẫu trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của BLTTHS. Tuy rằng có sự khác biệt về cách dùng từ “phổ biến” so với “thông báo, giải thích”, tuy nhiên, cả hai thuật ngữ này đều có nghĩa là cung cấp thông tin cho người bị buộc tội nên có thể xem xét tương đương nhau.

2. Hạn chế, bất cập trong cơ chế thực hiện quyền được thông báo, giải thích quyền của người bị buộc tội

Tuy BLTTHS năm 2015 và các văn bản dưới luật đã quy định cơ bản trình tự, thủ tục, thời điểm thực hiện việc thông báo quyền cho người bị buộc tội nhưng các quy định này vẫn còn một số vướng mắc, chưa đảm bảo người bị buộc tội biết và hiểu về quyền của mình, cụ thể:

Thứ nhất, thủ tục hiện nay chưa đảm bảo quyền được giải thích quyền của người bị buộc tội bởi người bị buộc tội chỉ ký tên xác nhận mà không biết cụ thể, chính xác nội dung các quyền của mình là gì. Các mẫu biên bản chỉ nêu chung chung người bị bắt/ người bị giữ/ người bị hỏi cung/người khai dưới đây đã được giải thích quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 58, 59, 60 BLTTHS năm 2015 (tùy thuộc vào tư cách tố tụng), người bị lấy lời khai chỉ xác nhận bằng cách ký và ghi rõ họ tên. Thậm chí, các mẫu biên bản bắt người, giữ người không yêu cầu người bị buộc tội ký tên xác nhận việc thực hiện phổ biến quyền.

Các mẫu biên bản này không liệt kê các quyền cụ thể. Do đó, nếu người lấy lời khai vô tình hoặc cố ý giải thích không đầy đủ hoặc giải thích sai thì người bị buộc tội cũng không thể biết được. Đặc biệt là người bị buộc tội bị tạm giữ, tạm giam và không có người bào chữa thì rất khó để có thể tra cứu, đối chiếu, so sánh do không có điều kiện tiếp cận tài liệu pháp lý có liên quan. Nếu từ giai đoạn điều tra, truy tố, họ không được thông báo, giải thích đầy đủ các quyền và đến giai đoạn xét xử lại tiếp tục không được thông báo, giải thích đầy đủ sẽ dẫn đến việc họ không biết và hiểu về quyền hợp pháp của mình.

Thứ hai, BLTTHS năm 2015 chưa quy định đầy đủ về thời điểm, người thực hiện thủ tục phổ biến, giải thích quyền cho tất cả các chủ thể bị buộc tội, mà một phần trong số đó lại do các mẫu biên bản được quy định bởi các văn bản dưới luật, cụ thể như việc phổ biến quyền cho người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt theo thủ tục truy nã, người bị bắt phạm tội quả tang, biên bản lấy lời khai người bị tạm giữ. Cụ thể: (1) Không quy định về việc thông báo, giải thích quyền cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp khi thi hành lệnh giữ, nhưng mẫu biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp lại yêu cầu người thi hành lệnh phải thông báo, giải thích quyền cho người bị giữ; (2) Không quy định trình tự, thủ tục lấy lời khai người bị tạm giữ, người bị giữ, người bị bắt; do đó, cũng không yêu cầu việc thông báo, giải thích quyền cho những người này khi tiến hành lấy lời khai. Tuy nhiên, mẫu biên bản ghi lời khai lại yêu cầu việc giải thích, thông báo quyền trước khi lấy lời khai đối với các chủ thể này; (3) Chỉ yêu cầu thông báo, giải thích quyền trong lần hỏi cung đầu tiên, còn những lần kế tiếp thì chưa quy định nhưng mẫu biên bản hỏi cung cũng chưa thể hiện lần đầu, lần kế tiếp. Nghĩa là, trong mọi trường hợp hỏi cung đều sử dụng cùng một mẫu biên bản và đều ghi nhận nội dung việc giải thích quyền cho người bị hỏi cung.

Vậy, vấn đề đặt ra là việc người có thẩm quyền chỉ tiến hành thông báo, giải thích quyền theo quy định của BLTTHS năm 2015, còn những trường hợp khác thì không thông báo, giải thích như trong mẫu biên bản quy định thì có được xem là vi phạm thủ tục tố tụng hay không. Nếu BLTTHS năm 2015 chưa quy định cụ thể về thủ tục thông báo, giải thích quyền thì việc vi phạm các mẫu biên bản theo văn bản dưới luật khó có thể xem là vi phạm thủ tục tố tụng. Điều này có thể gây ra những tranh cãi không cần thiết, ví dụ như khi người bào chữa cho rằng các biên bản này không hợp pháp do người bị buộc tội không ký tên xác nhận đã được thông báo, giải thích quyền, hoặc người bị buộc tội yêu cầu phải được thông báo, giải thích quyền theo mẫu biên bản nhưng người lấy lời khai, người thi hành lệnh bắt, giữ không thực hiện do BLTTHS năm 2015 không quy định.

Mặt khác, vào thời điểm người bị buộc tội vừa bị bắt, bị giữ thì đây là những trường hợp người bị buộc tội vừa bị khống chế sự tự do, tâm lý hoảng loạn, sợ hãi, mất bình tĩnh nên việc thông báo quyền cho họ là rất cần thiết để họ có thể cân nhắc lựa chọn việc sử dụng các quyền hợp pháp. Việc không quy định trong BLTTHS mà trong các văn bản dưới luật thông qua các mẫu biên bản cũng không đảm bảo việc thực hiện thông báo, giải thích quyền cho người bị buộc tội bởi các văn bản dưới luật có thể được sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ theo quy trình đơn giản hơn so với luật, nếu các văn bản dưới luật thay đổi các mẫu biên bản thì sẽ ảnh hưởng đến quyền được thông báo, giải thích quyền của người bị buộc tội vào các thời điểm đầu tiên của tố tụng.

Thứ ba, quy định chỉ thông báo, giải thích quyền cho bị can một lần duy nhất vào buổi hỏi cung đầu tiên cũng chưa hợp lý. Bởi lẽ, tổng cộng thời hạn điều tra, truy tố, xét xử của một vụ án, từ vài tháng cho đến vài năm, tùy theo loại tội phạm và mức độ phức tạp của vụ án. Trong thời gian đó, sau khi cơ quan có thẩm quyền khởi tố bị can thì việc hỏi cung bị can có thể diễn ra nhiều lần, mỗi lần có thể cách nhau một khoảng thời gian ngắn hoặc dài. Việc đòi hỏi bị can chỉ trong một lần được thông báo, giải thích quyền mà có thể biết, hiểu và nhớ các quyền hợp pháp của mình để có thể sử dụng là tương đối khó khăn.

Đồng thời, việc quy định bắt buộc phải thông báo, giải thích quyền trong lần hỏi cung đầu tiên cũng dẫn đến trường hợp nếu lần hỏi cung đầu tiên mà người thẩm vấn không thực hiện việc này, tức là đã vi phạm thủ tục tố tụng và lời khai có từ buổi hỏi cung này có thể bị loại trừ, không được sử dụng. Tuy nhiên, nếu các lần hỏi cung sau mà người thẩm vấn vẫn không phổ biến quyền cho người bị buộc tội thì liệu lời khai trong những lần hỏi cung sau có bị loại trừ do vi phạm thủ tục tố tụng không thì vẫn chưa rõ ràng. Bởi lẽ, BLTTHS năm 2015 chỉ quy định phải thông báo, giải thích quyền trong lần hỏi cung đầu tiên. Do đó, nếu người thẩm vấn không phổ biến quyền trong tất cả những lần hỏi cung, thì về lý thuyết, chỉ lần hỏi cung đầu tiên là có vi phạm tố tụng, còn những lần hỏi cung sau là không vi phạm là chưa thực sự hợp lý.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Theo chúng tôi, cần thiết phải sửa đổi một số nội dung sau nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền được thông báo giải thích quyền của người bị buộc tội như sau:

Một là, bổ sung quy định trong BLTTHS năm 2015 về việc phổ biến quyền cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã để đảm bảo việc phổ biến quyền cho người bị buộc tội được thực hiện sớm nhất; cung cấp các kiến thức về quyền để họ có thể cân nhắc lựa chọn việc sử dụng chúng.

Hai là, bổ sung quy định về việc thông báo, giải thích quyền cho người bị buộc tội trong tất cả những lần lấy lời khai, hỏi cung nhằm đảm bảo người bị buộc tội biết, hiểu được các quyền hợp pháp của mình trong tất cả các giai đoạn tố tụng. Đồng thời, tránh được khả năng người tiến hành tố tụng cố tình không thực hiện hoặc hạn chế việc thông báo, giải thích quyền trong các lần lấy lời khai, hỏi cung.

Ba là, cần sửa đổi mẫu biên bản hỏi cung, biên bản lấy lời khai, biên bản bắt, giữ người theo hướng liệt kê đầy đủ các quyền của người bị buộc tội, để người bị buộc tội có thể nắm được trước khi ký tên xác nhận về việc đã được thông báo, giải thích quyền; tránh việc không được thông báo, bị giải thích sót, sai về các quyền mà họ được trao.

Võ Minh Kỳ - Ngô Hải Sơn

Quy định về khả năng nhận thức của người chưa thành niên trong Bộ luật tư pháp hình sự người chưa thành niên Cộng hòa Pháp

(Kiemsat.vn) - Trên cơ sở phân tích Điều L11-1 Bộ luật tư pháp hình sự người chưa thành niên Cộng hòa Pháp, bài viết cho thấy những điểm tiến bộ, những điểm tương đồng và khác biệt với quy định của pháp luật Việt Nam; từ đó gợi mở một số nội dung để hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang