Quy định rõ phạm vi, nguyên tắc áp dụng cơ chế đặc thù
Thông tư liên tịch số 14/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC quy định nguyên tắc thực hiện, trình tự, thủ tục tố tụng và quan hệ phối hợp trong giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố để xem xét áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù theo Điều 5, Điều 6, Điều 7 và Điều 8 Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.
Các cơ chế được quy định gồm: Không truy cứu trách nhiệm hình sự; tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự; miễn trách nhiệm hình sự; không khởi tố vụ án hình sự; tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án; tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra đối với bị can.
Đối với giai đoạn xét xử và thi hành án hình sự, việc áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù được thực hiện theo Nghị quyết số 29/2026/QH16, Bộ luật Tố tụng hình sự, pháp luật về thi hành án hình sự và Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP ngày 18/8/2026 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Thông tư liên tịch đồng thời đặt ra những nguyên tắc nhằm bảo đảm việc áp dụng chính sách đúng đối tượng, đúng điều kiện, trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Nghiêm cấm lợi dụng Nghị quyết số 29/2026/QH16 để bao che hành vi vi phạm, hợp pháp hóa sai phạm, trốn tránh trách nhiệm pháp lý hoặc trục lợi chính sách; mọi hành vi vi phạm phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Việc xem xét, áp dụng cơ chế đặc thù phải gắn với giải quyết khó khăn, vướng mắc của dự án, công trình, bảo đảm khắc phục hậu quả thiệt hại và không làm đình trệ việc tiếp tục thực hiện, hoàn thành, khai thác, sử dụng dự án, công trình khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội, cơ chế đặc thù chỉ áp dụng đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thuộc phạm vi Nghị quyết số 29/2026/QH16; các hành vi phạm tội khác được xử lý theo quy định của pháp luật.
Làm rõ trách nhiệm rà soát, kiểm sát và quyết định áp dụng
Một nội dung đáng chú ý của Thông tư liên tịch là quy định cụ thể việc xác định điều kiện và xem xét áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù trong từng giai đoạn tố tụng.
Khi có căn cứ xác định vụ việc, vụ án có dấu hiệu thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết số 29/2026/QH16, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý có trách nhiệm rà soát, thu thập, kiểm tra và đánh giá các tài liệu liên quan. Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát có trách nhiệm chủ trì việc rà soát, đánh giá các điều kiện áp dụng cơ chế đặc thù theo thẩm quyền. Việc rà soát, xác định điều kiện phải được thực hiện trong thời hạn giải quyết vụ việc hoặc thời hạn điều tra theo Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp tài liệu chưa đầy đủ hoặc chưa đủ căn cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp, bổ sung tài liệu hoặc tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định. Viện kiểm sát, trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết vụ việc, điều tra vụ án, có trách nhiệm kiểm sát việc thu thập, đánh giá tài liệu; khi chưa đủ căn cứ thì yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung tài liệu hoặc tiến hành hoạt động điều tra.
Khi có đủ căn cứ xác định thuộc trường hợp quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá, xem xét và quyết định áp dụng cơ chế đặc thù theo thẩm quyền. Các tài liệu, chứng cứ chứng minh việc đáp ứng điều kiện phải được lưu trong hồ sơ vụ việc, vụ án làm căn cứ xem xét, quyết định.
Đối với cơ chế không truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát theo giai đoạn tố tụng phải kiểm tra điều kiện áp dụng, tính đầy đủ, hợp pháp và giá trị chứng minh của tài liệu, chứng cứ, cũng như sự phù hợp giữa tài liệu, chứng cứ với nội dung đề xuất áp dụng cơ chế. Nếu chưa đủ căn cứ, cơ quan tiến hành tố tụng tiếp tục xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ hoặc thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với cơ chế tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, Thông tư liên tịch quy định việc kiểm tra, đánh giá không chỉ tập trung vào điều kiện của Nghị quyết số 29/2026/QH16 mà còn phải xác định nội dung, tiến độ, thời hạn và kết quả thực hiện phương án khắc phục hậu quả thiệt hại; việc tổ chức, cá nhân thực hiện hoặc tích cực thực hiện các nội dung đã cam kết; khả năng tiếp tục thực hiện dự án, công trình và khả năng, phương án, điều kiện khắc phục hậu quả thiệt hại.
Trong thời gian tạm hoãn, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện phương án khắc phục hậu quả thiệt hại. Tổ chức, cá nhân được áp dụng cơ chế phải thực hiện đúng phương án, tiến độ đã cam kết, chịu sự kiểm tra, giám sát, định kỳ hoặc theo yêu cầu báo cáo kết quả và cung cấp tài liệu chứng minh việc khắc phục hậu quả. Kết quả theo dõi, kiểm tra, đánh giá phải được lập thành văn bản và đưa vào hồ sơ.
Quy định cụ thể việc xử lý sau tạm hoãn và cơ chế phối hợp
Thông tư liên tịch quy định rõ thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành các quyết định tố tụng tương ứng với từng cơ chế. Nếu có đủ căn cứ không truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy từng giai đoạn, cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định không khởi tố vụ án, đình chỉ điều tra hoặc Viện kiểm sát ban hành quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can.
Trường hợp đủ căn cứ tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy giai đoạn tố tụng, cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tạm đình chỉ điều tra vụ án hoặc bị can; hoặc Viện kiểm sát ban hành quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc bị can. Thời hạn tạm đình chỉ được thực hiện theo Nghị quyết số 29/2026/QH16.
Trong thời gian tạm hoãn, nếu người có hành vi vi phạm và tổ chức, cá nhân có liên quan không thực hiện hoặc thực hiện không đúng tiến độ, nội dung phương án khắc phục hậu quả thiệt hại đã cam kết mà không có lý do chính đáng, cơ quan đã ban hành quyết định tạm đình chỉ xem xét phục hồi và tiếp tục giải quyết vụ việc, vụ án theo quy định.
Trường hợp đã khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại trước khi hết thời hạn tạm đình chỉ, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác định, ghi nhận kết quả khắc phục, hoàn thiện hồ sơ để xem xét xử lý theo quy định. Khi hết thời hạn tạm đình chỉ, nếu đã khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại thì thực hiện theo Nghị quyết số 29/2026/QH16; nếu chưa khắc phục được toàn bộ thì tiếp tục thực hiện các thủ tục tố tụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự, đồng thời ghi nhận kết quả, mức độ, tỷ lệ khắc phục hậu quả thiệt hại trong hồ sơ vụ việc, vụ án.
Về phối hợp, Cơ quan điều tra chủ trì rà soát khi vụ việc có dấu hiệu thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết; Viện kiểm sát có thẩm quyền phối hợp đánh giá điều kiện áp dụng. Khi vụ án đã chuyển sang Viện kiểm sát mà phát sinh căn cứ xem xét áp dụng chính sách, Viện kiểm sát chủ trì rà soát, Cơ quan điều tra phối hợp đánh giá tài liệu, chứng cứ đã thu thập.
Trường hợp cần thiết, các cơ quan tiến hành tố tụng trao đổi bằng văn bản; cơ quan được đề nghị có trách nhiệm trả lời trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản và tài liệu liên quan. Nếu còn ý kiến khác nhau về điều kiện áp dụng chính sách, cơ quan đang thụ lý chủ trì trao đổi, thống nhất; trường hợp không thống nhất được thì cơ quan đang thụ lý quyết định theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự và pháp luật có liên quan. Việc phối hợp không làm thay đổi thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Thông tư liên tịch số 14/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC có hiệu lực từ ngày 08/10/2026. Đối với các vụ việc, vụ án thuộc phạm vi điều chỉnh đang được giải quyết trước thời điểm này nhưng chưa ban hành quyết định tố tụng theo quy định, việc xem xét, áp dụng cơ chế đặc thù được thực hiện theo Nghị quyết số 29/2026/QH16, Bộ luật Tố tụng hình sự và Thông tư liên tịch. Hồ sơ, tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trước ngày Thông tư liên tịch có hiệu lực và phù hợp với Nghị quyết số 29/2026/QH16 được tiếp tục sử dụng.
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn có trách nhiệm tổ chức thực hiện; kịp thời trao đổi để thống nhất giải quyết khó khăn, vướng mắc phát sinh theo quy định của pháp luật.
Bài viết chưa có bình luận nào.