Một số điểm mới của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017

18/04/2018 13:39

(kiemsat.vn)
Luật TNBTCNN năm 2017 có 9 chương và 78 điều. Trong đó, có rất nhiều điểm mới và tiến bộ về thiệt hại được bồi thường và việc xác định thiệt hại được bồi thường.

Ngày 20/06/2017, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV, Quốc hội đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN), có hiệu lực từ ngày 01/07/2018 (Luật TNBTCNN năm 2017). Luật  đã bổ sung 01 Điều (Điều 4) quy định về nguyên tắc bồi thường của Nhà nước. 

Theo đó, việc giải quyết bồi thường được giải quyết tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại; được kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hành chính. Luật đã mở rộng nguyên tắc giải quyết bồi thường, cho phép người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ngay ra tòa án khi có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự và thi hành án dân sự; kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự tại Tòa án đối với yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự và thi hành án dân sự (khoản 4 Điều 4). Người bị thiệt hại có quyền lựa chọn cơ chế giải quyết bồi thường phù hợp nhưng khi cơ quan giải quyết bồi thường đã thụ lý yêu cầu bồi thường thì người đó không được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khác giải quyết bồi thường. Luật TNBTCNN năm 2017 không quy định kết hợp giải quyết bồi thường trong quá trình giải quyết khiếu nại.

Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung 05 Điều quy định cụ thể về các văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong các hoạt động quản lý hành chính (Điều 8), tố tụng hình sự (Điều 9), tố tụng dân sự, tố tụng hành chính (Điều 10), thi hành án hình sự (Điều 11), thi hành án dân sự (Điều 12).

Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV (nguồn internet)

Thiệt hại được bồi thường trong Luật TNBTCNN năm 2017

So với 07 điều Luật TNBTCNN 2009, 11 điều tại Chương III Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi toàn diện các quy định về thiệt hại được bồi thường theo hướng như sau:

Về phương thức quy định các thiệt hại được bồi thường, Luật TNBTCNN năm 2017 quy định về các thiệt hại được bồi thường theo hướng quy định chi tiết, cụ thể các loại thiệt hại cũng như cách thức xác định, căn cứ xác định từng loại thiệt hại được bồi thường mà không quy định theo hướng mang tính khái quát, hay mang tính nguyên tắc chung. Phương thức quy định này là phù hợp với định hướng rút ngắn thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường mà Luật TNBTCNN năm 2017 quy định vì để có thể rút ngắn thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường, thì các loại thiệt hại cần phải được quy định cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác minh thiệt hại cũng như thương lượng việc bồi thường trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường.

Trong từng nhóm thiệt hại được bồi thường Luật TNBTCNN năm 2017 quy định thêm nhiều loại thiệt hại cụ thể được bồi thường. Việc bổ sung thêm các loại thiệt hại được bồi thường là bởi, trên thực tiễn đã phát sinh nhiều loại thiệt hại mà thực tế người bị thiệt hại đã phải gánh chịu nhưng không được bồi thường do Luật TNBTCNN 2009 chưa có quy định. 

Quy định tăng mức thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong một số trường hợp như: bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù; sức khỏe bị xâm phạm; bị khởi tố, truy tố, xét xử mà không bị tạm giữ, tạm giam; bị xét xử, thi hành án cải tạo không giam giữ, phạt tù cho hưởng án treo mà không bị tạm giữ, tạm giam. Việc tăng mức bồi thường cho các thiệt hại nêu trên cho phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, cũng như bảo đảm hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại.

Ảnh mang tính minh họa (nguồn internet)

Xác định thiệt hại 

Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung 01 điều về xác định thiệt hại được bồi thường (Điều 22), trong đó quy định những nguyên tắc chung thống nhất áp dụng pháp luật trong việc xác định thiệt hại được bồi thường, cụ thể:

- Thiệt hại được bồi thường là thiệt hại thực tế đã phát sinh, các khoản lãi và chi phí khác theo quy định của Luật TNBTCNN;

- Giá trị thiệt hại được bồi thường được tính tại thời điểm cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường theo quy định tại Điều 43 Luật TNBTCNN năm 2017 hoặc tại thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiệt hại đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 52 và Điều 55 của Luật TNBTCNN năm 2017. Trường hợp người yêu cầu bồi thường khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật TNBTCNN năm 2017 thì giá trị thiệt hại vẫn được tính tại thời điểm thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường trước đó.

- Quy định về khoảng thời gian làm căn cứ xác định thiệt hại được bồi thường là khoảng thời gian được tính từ ngày phát sinh thiệt hại thực tế cho đến khi chấm dứt thiệt hại đối với các thiệt hại quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 23, Điều 24, các khoản 1, 2, 3 Điều 25, các khoản 1, 2, 3 và điểm a khoản 4 Điều 26, khoản 3 Điều 27 của Luật TNBTCNN năm 2017.

So với Luật TNBTCNN năm 2009, những vấn đề về nguyên tắc xác định thiệt hại trong Luật TNBTCNN năm 2017 đã được thể hiện rõ ràng, luật hóa, bổ sung thêm và tập trung tại một điều luật. Đối với thời điểm tính giá trị thiệt hại được bồi thường đối với cơ chế giải quyết tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại, Luật TNBTCNN năm 2017 đã xác định thống nhất tại thời điểm thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường thay vì quy định chung chung tại thời điểm giải quyết bồi thường. 

Quy định này giúp cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại dễ dàng xác định một thời điểm để tính giá trị thiệt hại giúp việc giải quyết bồi thường được thực hiện thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, Luật TNBTCNN năm 2017 cũng quy định thống nhất thời điểm tính giá trị thiệt hại là thời điểm xác định giá trị tính thiệt hại đối với cơ chế giải quyết bồi thường khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường ngay khi có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường và cơ chế kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án.

Xem thêm >>>

Một số điểm mới của Luật Quản lý nợ công (sửa đổi)

Điểm mới về tội “cướp tài sản” trong BLHS năm 2015

 

(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang