1. Về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) quy định: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự”. Khái niệm này còn khá tổng quát, chưa mô tả hết bản chất pháp lý của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, chưa đủ cơ sở để phân biệt với những chủ thể tham gia tố tụng khác cũng có lợi ích, có nghĩa vụ trong vụ án, như người bị buộc tội, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự.
- Nhận thức về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trên cơ sở phân biệt với người bị buộc tội, bị hại và đương sự trong vụ án hình sự:
Người bị buộc tội, bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 4 BLTTHS năm 2015) là những chủ thể được quan tâm trước hết trong vụ án hình sự (VAHS). Người bị buộc tội phải chịu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự (nếu có). Bên cạnh đó, còn có những chủ thể khác mặc dù không thực hiện tội phạm (hoặc đã thực hiện nhưng được miễn trách nhiệm hình sự trước đó), nhưng pháp luật quy định họ phải chịu trách nhiệm hoặc liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đó là bị đơn dân sự. Bị đơn dân sự tham gia tố tụng và phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra. Một trong những nghĩa vụ của bị can, bị cáo, bị đơn dân sự là họ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tội phạm trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra.
Bị hại cũng là chủ thể có quyền và lợi ích hợp pháp trong VAHS. Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra (Điều 62 BLTTHS năm 2015). Chủ thể này tham gia tố tụng vì bị thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc bị đe dọa gây ra thiệt hại. Vì thế, bị hại có quyền buộc tội, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu thực tế đã bị thiệt hại) để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh bị hại, trong VAHS còn có chủ thể khác, có thể là cá nhân hoặc tổ chức, cũng được coi là bị thiệt hại do tội phạm gây ra, đó là nguyên đơn dân sự. Nguyên đơn dân sự thực tế đã bị thiệt hại do tội phạm gây ra nhưng thiệt hại đó không phải là hậu quả trực tiếp của tội phạm. Nguyên đơn dân sự phải có đơn yêu cầu tham gia tố tụng, có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại để bảo vệ lợi ích dân sự của mình… Bị hại và nguyên đơn dân sự đều có chung dấu hiệu pháp lý là bị thiệt hại do tội phạm gây ra. Vì thế, hai chủ thể này có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong VAHS.
Như vậy, khác với người bị buộc tội, bị hại và các đương sự khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có một số dấu hiệu thể hiện bản chất pháp lý riêng. Chủ thể này là cá nhân, cơ quan, tổ chức; quyền lợi, nghĩa vụ “liên quan” trong VAHS chủ yếu là tài sản hoặc tài liệu, giấy tờ hợp pháp khác của cá nhân, tổ chức bị “vướng” vào VAHS đang giải quyết. Nếu không làm rõ được tài sản, tài liệu liên quan trong vụ án cũng có nghĩa là vụ án chưa được chứng minh đầy đủ, như vật chứng là tài sản thuộc quyền sở hữu của ai, cần tịch thu, tiêu hủy hay trả lại? Nếu giải quyết vấn đề trách nhiệm liên quan đến tài sản hoặc tài liệu, giấy tờ hợp pháp nào đó không đúng sẽ gây thiệt hại cho các chủ thể. Pháp luật tố tụng hình sự không coi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người “bị thiệt hại do tội phạm gây ra”, tức là không có dấu hiệu này như bị hại và nguyên đơn dân sự. Vì thế, người có quyền lợi liên quan đến vụ án không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng có quyền yêu cầu trả lại tài sản, tài liệu, giấy tờ hợp pháp và bảo vệ những lợi ích hợp pháp của mình đang bị xử lý trong vụ án. Nếu quyền lợi của họ không được giải quyết trong VAHS thì họ cũng có quyền khởi kiện trong vụ án dân sự. Người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại như người bị buộc tội hoặc bị đơn dân sự. Nếu có nghĩa vụ thì đó là nghĩa vụ trả lại tài sản, tài liệu, giấy tờ hợp pháp liên quan đến vụ án mà họ đang chiếm giữ ngay tình. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có địa vị pháp lý rõ ràng, không thể nhầm lẫn với các chủ thể khác.
- Nhận thức về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (hình sự) trên cơ sở tham khảo khái niệm pháp lý về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Luật tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đưa ra khái niệm pháp lý khá chi tiết về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thể hiện tương đối rõ bản chất pháp lý của chủ thể này, đồng thời có thể phân biệt được với nguyên đơn, bị đơn trong vụ án. Theo đó, “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” (khoản 4 Điều 68). Điều luật cũng lưu ý: Trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng. Dấu hiệu cơ bản của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là “người không khởi kiện, không bị kiện” để phân biệt với nguyên đơn và bị đơn. Ngoài ra, Tòa án phải đưa một người vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng mà việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó. Tương tự, khoản 10 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Một trong những dấu hiệu đáng chú ý là tùy trường hợp mà họ tham gia tố tụng trên cơ sở “tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng”. Dấu hiệu này cho thấy ít nhiều có sự khác biệt với một số chủ thể còn lại cũng có quyền lợi, nghĩa vụ nào đó liên quan trong vụ án.
Như vậy, trong VAHS, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức, mặc dù không thực hiện hành vi phạm tội, không bị thiệt hại do tội phạm gây ra, không yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc có trách nhiệm bồi thường nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến VAHS cần được giải quyết nên đề nghị được tham gia tố tụng, tham gia tố tụng theo đề nghị của người khác hoặc theo triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
2. Dấu hiệu về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Thứ nhất, Điều 65 BLTTHS năm 2015 lần đầu tiên nêu rõ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức. Mặc dù đây chưa phải là dấu hiệu đặc trưng, điển hình nhưng là cơ sở ban đầu để xác định người (không chỉ là cá nhân) có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Thứ hai, quyền lợi, nghĩa vụ được coi là “liên quan” đến vụ án chủ yếu là tài sản (vật chứng) hoặc cũng có thể là tài liệu, giấy tờ hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức (giấy tờ tùy thân, giấy chứng nhận bảo hiểm, bằng lái xe bị thu giữ). Quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giải quyết vụ án có ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ của chủ thể. Vì không thực hiện tội phạm gây ra thiệt hại, cũng không bị thiệt hại do tội phạm gây ra nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nên chủ thể này chỉ có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Đó cũng là lý do luật tố tụng hình sự quy định phạm vi kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hẹp hơn so với bị cáo, bị hại, người đại diện và các đương sự khác trong vụ án.
Thứ ba, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không thực hiện tội phạm gây ra thiệt hại cho chủ thể khác, không bị thiệt hại do tội phạm gây ra nhưng quyền lợi, nghĩa vụ của họ bị ảnh hưởng bởi quyết định của cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án. Mặc dù không thực hiện tội phạm, không bị thiệt hại do tội phạm gây ra nhưng chủ thể này cần tham gia tố tụng bởi yêu cầu chứng minh vụ án (ví dụ chứng minh nguồn gốc vật chứng), đồng thời để giải quyết quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Vì thế, họ không bị thiệt hại do tội phạm gây ra nên việc yêu cầu trả lại tài sản, vật hay tài liệu nào đó không được coi là yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại như yêu cầu của bị hại và nguyên đơn dân sự. Nếu họ có nghĩa vụ trong vụ án thì nghĩa vụ đó cũng không phải là nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra hoặc người phải chịu trách nhiệm bồi thường thay cho người khác bằng tài sản của mình trong VAHS (bị đơn dân sự). Đây là đặc điểm đặc trưng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, là cơ sở để phân biệt với các chủ thể khác cũng có quyền lợi, nghĩa vụ trong vụ án. Nếu trong vụ án đồng phạm mà có một người thực hiện hành vi phạm tội, gây ra thiệt hại cho chủ thể khác nhưng được miễn trách nhiệm hình sự trước đó (giai đoạn điều tra, truy tố) thì họ có thể được triệu tập tham gia tố tụng để giải quyết trách nhiệm liên đới bồi thường với tư cách bị đơn dân sự mà không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Mặt khác, nếu cha mẹ, người giám hộ của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm bồi thường thay bằng tài sản của mình thì họ là bị đơn dân sự. Người nào tự nguyện nhận bồi thường thay cho người bị buộc tội từ đủ 18 tuổi trở lên trong VAHS thì người đó không phải là chủ thể trong VAHS, đó là quan hệ xã hội ngoài phạm vi điều chỉnh của luật tố tụng hình sự.
Thứ tư, việc tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để chứng minh toàn bộ sự thật vụ án và xử lý vật chứng. Trong trường hợp để bảo vệ quyền lợi của mình, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng có thể tự đề nghị được tham gia tố tụng hoặc được người khác đề nghị tham gia tố tụng.
3. Các trường hợp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong thực tế có thể là: Người chỉ có quyền lợi liên quan đến vụ án mà không có nghĩa vụ; cũng có thể là người chỉ có nghĩa vụ liên quan đến vụ án mà không có quyền lợi; và người vừa có quyền lợi, vừa có nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Thứ nhất, người có quyền lợi liên quan đến vụ án: Là quyền lợi về tài sản bị ảnh hưởng do quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Những người có quyền lợi liên quan đến vụ án thường tự mình hoặc được người khác đề nghị tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chấp nhận. Dạng này bao gồm:
- Người mà tài sản của họ bị người phạm tội sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội. Nếu cơ quan tiến hành tố tụng xác định họ không có lỗi trong việc để người phạm tội sử dụng tài sản của mình vào mục đích phạm tội thì tài sản đó được trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Trường hợp này không có thiệt hại xảy ra như là hậu quả của hành vi phạm tội. Dạng này hiện khá phổ biến trong các VAHS. Trường hợp khác của dạng này là người đồng sở hữu tài sản, nhưng bị người đồng sở hữu còn lại sử dụng vào việc phạm tội; hoặc họ có tài sản chung bị kê biên. Khi xử lý vật chứng hoặc tài sản chung bị kê biên thì người đồng sở hữu (người này không có lỗi) đề nghị được tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi liên quan đến vụ án để yêu cầu trả lại phần tài sản hợp pháp của mình.
- Người mà tài sản của họ được gửi cho cá nhân, tổ chức giữ hợp pháp, có thu tiền nhưng đã bị người phạm tội chiếm đoạt. Ví dụ, người chủ xe ô tô gửi giữ tại địa điểm do cá nhân, tổ chức quản lý, được phép hoạt động, có thu tiền gửi xe. Ô tô đã bị trộm cắp thì người giữ xe là bị hại, còn chủ xe là người có quyền lợi liên quan đến vụ án. Vì nếu xe bị mất thì người giữ xe phải bồi thường cho chủ xe theo luật dân sự. Hành vi trộm cắp trực tiếp gây thiệt hại cho người giữ xe chứ không phải chủ xe.
Tương tự trường hợp này còn có dạng khác, đó là một người giao tài liệu, giấy tờ nhà đất bản gốc cho một đơn vị làm dịch vụ để thuê đơn vị này làm thủ tục liên quan đến nhà, đất. Đơn vị này lại tiếp tục thuê người thứ ba làm thay nhưng lại bị người thứ ba này lừa đảo chiếm đoạt tài sản của đơn vị thuê (dùng thủ đoạn gian dối để nhận tiền dịch vụ nhưng không làm nhằm chiếm đoạt tiền), đồng thời chiếm giữ luôn tài liệu, giấy tờ gốc của chủ nhà, đất (là một trong những vật chứng của vụ án). Đơn vị làm dịch vụ trung gian, ngay tình (có thu phí) bị thiệt hại do tội phạm (lừa đảo) gây ra là bị hại trong vụ án, còn người chủ tài liệu, giấy tờ hợp pháp (đang bị người phạm tội chiếm giữ giấy tờ này) là người có quyền lợi liên quan đến vụ án. Người chủ nhà đất được tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi liên quan đến vụ án để được giải quyết trả lại tài liệu, giấy tờ nhà đất của mình đang bị người khác chiếm giữ trái phép.
- Người vay tiền trong vụ án cho vay lãi nặng (Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự): Khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm là khoản tiền mà người phạm tội thu lợi bất chính của người vay nên được trả lại cho người vay tiền, trừ trường hợp người vay sử dụng tiền vay vào mục đích bất hợp pháp (như đánh bạc, mua bán trái phép chất ma túy...) thì khoản tiền thu lợi bất chính bị tịch thu sung công quỹ nhà nước. Đó cũng là lý do xác định người vay tiền trong trường hợp này tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án[1].
- Các ngân hàng, tổ chức tín dụng nhận thế chấp tài sản là vật chứng của vụ án: Khi giải quyết vụ án và xử lý vật chứng, các ngân hàng, tổ chức tín dụng được tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án để xác định biện pháp xử lý tài sản thế chấp phù hợp nhằm bảo vệ quyền lợi của các đơn vị này.
- Tổ chức, đơn vị bảo hiểm trong quá trình giải quyết VAHS đã thanh toán trước chi phí khắc phục hậu quả cho bị hại, sau đó đề nghị được tham gia tố tụng để yêu cầu người phạm tội hoàn lại chi phí đó. Do đó, tổ chức bảo hiểm cũng được xác định là người có quyền lợi liên quan đến vụ án[2].
Thứ hai, người chỉ có nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Đây không phải là nghĩa vụ bồi thường mà là nghĩa vụ trả lại tài sản, tài liệu, giấy tờ có liên quan đến vụ án, cụ thể:
- Những người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án thường được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập tham gia tố tụng. Phổ biến là trường hợp người được tặng, cho hoặc giữ tài sản, tài liệu là vật chứng của vụ án một cách ngay tình. Người này được triệu tập tham gia tố tụng với tư cách người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án để thực hiện nghĩa vụ trả lại tài sản đó.
- Người thừa kế tài sản của bị cáo trong vụ án có đồng phạm (nhưng bị cáo đã chết) thì người thừa kế này được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Người này tham gia tố tụng để thay mặt bị cáo liên đới bồi thường cùng với các bị cáo khác[3]. Tài sản được thừa kế dùng để bồi thường là tài sản của bị cáo đã chết.
Thứ ba, người vừa có quyền lợi, vừa có nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Điển hình là người (cá nhân, tổ chức) làm dịch vụ nhận cầm tài sản nhưng họ không biết tài sản đó do phạm tội mà có. Họ được triệu tập tham gia tố tụng để thực hiện nghĩa vụ trả lại tài sản là vật chứng của vụ án đồng thời để bảo vệ quyền lợi của mình liên quan đến trách nhiệm trả tiền của bên giao dịch.
4. Một số kiến nghị
Từ những phân tích trên, có thể thấy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong VAHS là chủ thể tham gia tố tụng có dấu hiệu pháp lý độc lập, có quyền và nghĩa vụ khác với những người tham gia tố tụng khác. Vì vậy, cần xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của họ khi giải quyết vụ án.
Theo tác giả, để có cơ sở xác định đúng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong VAHS, cần hoàn thiện khái niệm pháp lý về chủ thể này theo hướng bổ sung một số dấu hiệu pháp lý (tại khoản 1 Điều 65 BLTTHS năm 2015). Có thể tham khảo khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và khoản 10 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Tác giả đề xuất như sau: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức, mặc dù không thực hiện hành vi phạm tội, không bị thiệt hại do tội phạm gây ra, không yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc có trách nhiệm bồi thường nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến VAHS cần được giải quyết nên đề nghị được tham gia tố tụng, tham gia tố tụng theo đề nghị của người khác hoặc theo triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Đồng thời, cần tổng kết thực tiễn để ban hành văn bản liên tịch hướng dẫn một cách hệ thống về các chủ thể tham gia tố tụng nói chung và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nói riêng. Nội dung hướng dẫn sẽ giúp các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuận lợi hơn trong nhận thức và áp dụng pháp luật. Hiện nay, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành một số văn bản hướng dẫn xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, do hướng dẫn chưa có tính liên ngành, chưa được hệ thống nên vấn đề nhận thức chưa được toàn diện.
Lê Nguyên Thanh
-------------------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Ngọc Anh (Chủ biên) Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.
2. Nguyễn Ngọc Anh, Phan Trung Hoài (Đồng chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018.
3. Phạm Văn Lợi (chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005.
4. Nguyễn Xuân Kỳ (2021), Việc xác định tư cách tố tụng đối với một người bị thiệt hại về tài sản trong vụ án hình sự từ lý luận đến thực tiễn, https://vksnd.gialai.gov.vn/Nghien-cuu-Trao-doi/Viec-Xac-dinh-tu-cach-to-tung-doi-voi-mot-nguoi-bi-thiet-hai-ve-tai-san-trong-vu-an-hinh-su-tu-ly-luan-den-thuc-tien-1256.html.
5. Công văn số 163/TANDTC-PC giải đáp một số vướng mắc trong xét xử ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân tối cao.
6. Công văn số 212/TANDTC-PC thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử ngày 13/09/2019 của Tòa án nhân dân tối cao.
7. Công văn số 206/TANDTC-PC thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân tối cao.
[1] Mục I (1) Công văn số 212/TANDTC-PC, Thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử, ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân tối cao.
[2] Tham khảo tình huống trong bài viết “Xác định tư cách tham gia tố tụng trong vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” của tác giả Đinh Minh Lượng, Tạp chí Kiểm sát số 13/2024, tr. 33-36.
[3] Mục II (2) Công văn số 206/TANDTC-PC, Thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử, ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân tối cao.
Bài viết chưa có bình luận nào.