1. Về dấu hiệu định tội “đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”
Theo khoản 1 Điều 306 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015), để một người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này thì dấu hiệu bắt buộc là người đó phải thuộc một trong hai trường hợp: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích. Nếu không thuộc một trong hai trường hợp này thì không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy, trường hợp một người không thuộc một trong hai trường hợp trên nhưng có hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ với số lượng lớn, đặc biệt lớn thì vẫn không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự mặc dù hành vi này thể hiện tính chất nguy hiểm cao.
Có quan điểm cho rằng, người chưa có tiền án, tiền sự có hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ với số lượng lớn thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 2 Điều 306 BLHS năm 2015. Tuy nhiên, quan điểm này là không chính xác bởi về nguyên tắc, chỉ xem xét tình tiết định khung tăng nặng ở khoản 2 khi đã đủ dấu hiệu định tội quy định tại khoản 1 Điều 306 BLHS năm 2015, trong khi khoản 1 lại quy định người thực hiện hành vi phải có tiền án, tiền sự về một trong các hành vi được liệt kê tại Điều này.
Việc một người chưa có tiền án, tiền sự thực hiện hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng súng săn, vũ khí thể thao với bất kỳ số lượng nào đều chỉ bị xử phạt hành chính theo Điều 11 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự là chưa phù hợp. Do đó, cần sửa đổi khoản 1 Điều 306 BLHS năm 2015 theo hướng người thực hiện các hành vi được liệt kê tại Điều này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong hai trường hợp: (i) Đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm với bất kỳ số lượng nào; (ii) Vật phạm pháp có số lượng lớn trở lên.
2. Về các tình tiết “vật phạm pháp có số lượng lớn”, “vật phạm pháp có số lượng rất lớn hoặc đặc biệt lớn”
Theo Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐTP ngày 09/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy đinh tại Điều 304, Điều 305, Điều 306, Điều 307 và Điều 308 của Bộ luật Hình sự (Nghị quyết số 03/2022) thì tại khoản 7, 8 Điều 4 có nêu:
...“7. Vật phạm pháp có số lượng lớn” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 306 của Bộ luật Hình sự:
a) Từ 11 đến 100 đơn vị súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ hoặc vũ khí không thuộc danh mục do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhưng có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng;
b) Vật phạm pháp khác có số lượng lớn theo quy định của pháp luật.
8. Vật phạm pháp có số lượng rất lớn hoặc đặc biệt lớn” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 306 của Bộ luật Hình sự:
a) Từ 101 đơn vị súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ hoặc vũ khí không thuộc danh mục do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhưng có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng trở lên;
b) Vật phạm pháp khác có số lượng rất lớn hoặc đặc biệt lớn theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, Nghị quyết số 03/2022 đã nêu rõ số lượng để được coi là “lớn”, “rất lớn”, “đặc biệt lớn”. Tuy nhiên, trên thực tế lại xảy ra vướng mắc liên quan đến xác định thế nào là “một đơn vị”, cụ thể:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, theo các khoản 3, 5 Điều 3 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 thì: “Súng săn là súng kíp, đạn sử dụng cho súng này sử dụng vào mục đích săn bắn”; “vũ khí thể thao bao gồm: Súng trường hơi, súng trường bắn đạn nổ, súng ngắn hơi, súng ngắn bắn đạn nổ, súng thể thao bắn đạn sơn, súng bắn đĩa bay, đạn sử dụng cho các loại súng này; linh kiện cơ bản của súng..”. Do đó, 01 khẩu súng kíp, 01 khẩu súng trường, 01 khẩu súng ngắn hơi… được tính là một đơn vị và 01 viên đạn sử dụng cho súng kíp hoặc súng hơi, 01 linh kiện cơ bản của súng… cũng được tính là một đơn vị. Khoản 7 Điều 4 Nghị quyết số 03/2022 hướng dẫn: “Vật phạm pháp có số lượng lớn” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 306 của BLHS: a) Từ 11 đến 100 đơn vị …”. Do đó, nếu có hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt từ 11 đến 100 khẩu súng kíp hoặc súng hơi… hoặc từ 11 đến 100 viên đạn sử dụng cho các loại súng kíp hoặc súng hơi thì phải áp dụng tình tiết định khung tăng nặng, quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 306 BLHS năm 2015 là “vật phạm pháp có số lượng lớn”.
Quan điểm thứ hai cho rằng, khoản 3 Điều 3 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 quy định: “Súng săn là súng kíp, đạn sử dụng cho súng này được sử dụng vào mục đích săn bắn”. Nhà làm luật dùng dấu “phẩy” mà không dùng từ “hoặc” nên phải hiểu bao gồm cả súng và đạn. Do đó, không thể coi 01 viên đạn sử dụng cho súng kíp là một đơn vị.
Để thống nhất áp dụng pháp luật, liên ngành tư pháp trung ương cần có văn bản hướng dẫn áp dụng cụ thể về vấn đề này.
3. Trường hợp sử dụng vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, súng săn thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác
Theo khoản 1 Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 thì vũ khí bao gồm vũ khí quân dụng, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và súng săn. Đối với “dao có tính sát thương cao”, nếu sử dụng để xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người thì thuộc nhóm vũ khí quân dụng, nếu sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ thì thuộc nhóm vũ khí thô sơ. Vấn đề đặt ra là trường hợp một người có hành vi sử dụng vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, súng săn thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác thì sẽ bị xử lý hình sự như thế nào? Ví dụ A có hành vi sử dụng vũ khí thô sơ để cố ý gây thương tích cho B, việc xử lý hiện còn có các quan điểm khác nhau, cụ thể:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, cần xử lý A về hai tội là Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ và các vũ khí khác có tính tăng tác dụng tương tự và Tội cố ý gây thương tích. Quan điểm này dựa trên quy định tại các khoản 2, 4, 6 Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024; tinh thần khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 03/2022; Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và Công văn số 1279/VKSTC-V14 ngày 25/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 304 BLHS năm 2015.
Quan điểm thứ hai cho rằng, chỉ xử lý A về Tội cố ý gây thương tích với tình tiết “sử dụng vũ khí…”, bởi lẽ vũ khí thô sơ được quy định là một nhóm vũ khí. Tình tiết này đã sử dụng là tình tiết định khung nên không xử lý thêm về Tội sử dụng vũ khí thô sơ… nhằm tránh xử lý trùng lặp, vì một hành vi chỉ bị xử lý một lần, nếu truy cứu thêm tội sẽ gây bất lợi cho A.
Tác giả đồng ý với quan điểm thứ nhất, bởi lẽ:
Khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐTP quy định: Người nào thực hiện hành vi quy định tại các điều 304, 305, 306 của BLHS với mục đích là chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện một tội phạm tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 301, 302, 303 và 324 của BLHS thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả 02 tội.
Công văn số 1279/VKSTC-V14 ngày 25/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao nêu rõ: Căn cứ vào các quy định tại các khoản 2, 4, 6 Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024; tinh thần quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 03/2022; Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an, thì có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi dùng dao sắc, nhọn, kiếm, giáo, mác, thương, dao găm, lưỡi lê, đao, mã tấu dao sắc, nhọn (thuộc Phụ lục 5 - Danh mục dao có tính sát thương cao),... để thực hiện tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người (ví dụ: Giết người, cố ý gây thương tích...) về hai tội danh: (1) Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng (nếu vật được sử dụng là vũ khí quân dụng theo quy định); (2) Tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe tương ứng theo kết quả điều tra, truy tố.
Mục 2 Công văn số 233/TANDTC-PC ngày 01/10/2019 về việc trao đổi nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao nêu: Trường hợp người thực hiện nhiều hành vi (chuỗi hành vi) một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian, trong đó, hành vi trước là tiền đề, điều kiện để thực hiện hành vi sau thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về nhiều tội tương ứng với từng hành vi, nếu mỗi hành vi đều có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.
Trên tinh thần các quy định, văn bản nêu trên, A là người thực hiện nhiều hành vi (thành một chuỗi liên tục, kế tiếp về mặt thời gian), hành vi sử dụng vũ khí thô sơ là tiền đề, điều kiện để thực hiện hành vi cố ý gây thương tích nên cần truy cứu trách nhiệm hình sự về nhiều tội phạm tương ứng. Việc xử lý đồng thời như vậy là hoàn toàn có cơ sở pháp lý, phù hợp với nguyên tắc xác định tội danh trong luật hình sự, phù hợp với hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, bảo đảm không bỏ lọt hành vi phạm tội, đồng thời bảo vệ đầy đủ các khách thể bị xâm hại mà pháp luật hình sự đặt ra.
Tuy nhiên, khi xử lý về cả hai tội danh như trên sẽ dẫn đến vướng mắc trong vấn đề về áp dụng tình tiết định khung. Nếu hành vi của A đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả hai tội, thì trong Tội cố ý gây thương tích có áp dụng tiếp tục tình tiết định khung “sử dụng vũ khí…” nữa hay không? Có quan điểm cho rằng, không được áp dụng tình tiết định khung này vì tình tiết sử dụng vũ khí đã bị truy cứu về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ và các vũ khí khác có tính tăng tác dụng tương tự nên không được lặp lại để xem xét. Tuy nhiên, quan điểm khác lại cho rằng, khoản 2 Điều 52 BLHS năm 2015, chỉ quy định các tình tiết đã là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng. Luật chỉ không cho phép áp dụng tình tiết làm yếu tố tăng nặng, nếu nó đã là dấu hiệu định tội hoặc định khung. Trong trường hợp này, tình tiết “sử dụng dao có tính sát thương cao” không phải là tình tiết tăng nặng mà là tình tiết định tội, đồng thời cũng là tình tiết định khung tại Điều 134 BLHS năm 2015. Bên cạnh đó, đây là hai tội danh độc lập, pháp luật hiện hành không cấm việc một tình tiết đã sử dụng để định tội thì không được sử dụng để định khung và ngược lại[1].
Do đó, theo tác giả để giải quyết những vướng mắc này, liên ngành trung ương cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn, giải đáp để tạo tiền đề áp dụng đúng và thống nhất trên thực tế.
4. Về các tình tiết định khung tăng nặng
Điều 306 BLHS năm 2015 quy định gồm 04 khoản, trong đó có hai khung tăng nặng tại khoản 2 và 3 với 12 tình tiết định khung tăng nặng. Tuy nhiên, việc quy định 12 tình tiết như hiện nay cho thấy sự thiếu công bằng, khôngphù hợp giữa khung hình phạt và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cụ thể:
- A thực hiện hành vi phạm tội làm B chết, làm bị thương C và D với tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể là 121%. Trường hợp này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các điểm d, e khoản 2 Điều 306 BLHS năm 2015 với khung hình phạt từ 01 - 05 năm tù.
- H thực hiện hành vi phạm tội làm G, H bị thương với tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể là 122%. Trường hợp này, H bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các điểm c khoản 3 Điều 306 BLHS năm 2015 với khung hình phạt từ 03-07 năm tù.
Như vậy, cùng thực hiện một tội phạm, H gây ra hậu quả ít nghiêm trọng hơn nhưng lại chịu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt nặng hơn A, là không phù hợp. Có quan điểm cho rằng, việc đưa ra bất cập này là không đúng vì mặc dù khung hình phạt ở khoản 3 cao hơn nhưng vẫn có sự giao thoa với khung hình phạt ở khoản 2, nếu A gây ra hậu quả nặng hơn, hoàn toàn có thể chịu mức án cao hơn so với H (ví dụ A bị tuyên 04 năm, H bị tuyên 03 năm). Tuy nhiên, vấn đề quy định tình tiết định khung không chỉ có giá trị trong việc đưa ra giới hạn tuyên án mà còn ảnh hưởng đến nhiều vấn đề khác như loại tội phạm (nghiêm trọng hay rất nghiêm trọng), thời hạn điều tra, truy tố, xét xử; thẩm quyền… Bất cập này hiện đang xuất hiện ở một số tội danh trong BLHS như Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ,…
Do đó, cần quy định lại các tình tiết này theo hướng kết hợp các hậu quả (hay các tình tiết) để có sự phân hóa rõ ràng theo mức độ hậu quả mà hành vi phạm tội gây ra, cụ thể:
Bổ sung vào khoản 3 Điều 306 BLHS năm 2015 các tình tiết định khung tăng nặng sau:
...“e) Làm chết 01 người và gây hậu quả thuộc trường hợp quy định tại các điểm đ, e, g khoản 2 Điều này;
f) Thuộc trường hợp quy định tại điểm đ hoặc điểm e khoản 1 Điều này mà còn gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”.
Nguyễn Văn Linh
[1] Nguyễn Hữu Tuấn, Một số khó khăn, vướng mắc khi xử lý các vụ án sử dụng dao có tính sát thương cao xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người và đề xuất hoàn thiện pháp luật, Trang thông tin VKSND tỉnh Thanh Hóa, 23/7/2025, https://vienkiemsat.thanhhoa.gov.vn/portal/Pages/2025-7-23/Mot-so-kho-khan-vuong-mac-khi-xu-ly-cac-vu-an-su-duubzw2.aspx.
Bài viết chưa có bình luận nào.