1. Đặt vấn đề
Thu hồi tài sản (THTS) bất hợp pháp không qua thủ tục kết tội là cách tiếp cận mới, phát sinh khi các phương thức truyền thống không đáp ứng được nhu cầu THTS trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, mà cơ sở là Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003 (United Nations Convention Against Corruption - UNCAC).
Đây là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành thu hồi một phần, hoặc toàn bộ tài sản liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật mà không cần bản án, quyết định hình sự đối với người nắm giữ tài sản đó. Phương thức này được xác định là quy trình đặc biệt của cơ quan nhà nước, không xét xử bị cáo hay hành vi phạm tội mà tập trung vào xử lý tài sản được cho là có nguồn gốc hoặc có liên quan đến tội phạm, với mục đích thu hồi về cho ngân sách nhà nước hoặc trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp của tài sản[1].
Tùy thuộc vào hệ thống pháp luật từng quốc gia mà phương thức THTS bất hợp pháp không qua thủ tục kết tội được áp dụng theo các hình thức phù hợp với các tên gọi khác. Các hình thức này có thể bao gồm: Thu hồi tài sản bất hợp pháp không qua thủ tục kết tội trong khuôn khổ tố tụng hình sự, thu hồi dân sự, thu hồi hành chính, thu thuế thu nhập tài sản bất hợp pháp, tài sản không giải trình rõ nguồn gốc... Trong đó, phần lớn các quốc gia hiện nay theo đuổi mô hình THTS bất hợp pháp không qua thủ tục kết tội đặc biệt chú trọng hình thức thu hồi dân sự và hành chính, số ít còn lại xây dựng một quy trình riêng trong khuôn khổ tố tụng hình sự như Trung Quốc.
Thu hồi tài sản bất hợp pháp không qua thủ tục kết tội đã khắc phục những hạn chế của phương thức thu hồi truyền thống, như việc áp dụng các tiêu chuẩn chứng minh hoặc đảo ngược nghĩa vụ chứng minh. Theo đó, THTS bất hợp pháp không qua thủ tục kết tội có thể áp dụng các tiêu chuẩn chứng minh thấp hơn so với tiêu chuẩn chứng minh trong tố tụng hình sự như “ưu thế chứng cứ, cân bằng xác suất” và tại một số nền tài phán, người sở hữu tài sản bị nghi ngờ có nguồn gốc bất hợp pháp phải tự chứng minh nguồn gốc hợp pháp, thay vì nghĩa vụ chứng minh của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền như các biện pháp truyền thống.
2. Thu hồi tài sản bất hợp pháp không qua thủ tục kết tội theo quy định của pháp luật Trung Quốc
2.1. Quy định chung về thu hồi tài sản bất hợp pháp không qua thủ tục kết tội
Thu hồi tài sản bất hợp pháp không qua thủ tục kết tội tại Trung Quốc được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa pháp luật của quốc gia và các hiệp định hợp tác quốc tế, bao gồm ba hình thức chính: (i) Tự nguyện trả lại tài sản bất hợp pháp, (ii) Tịch thu đặc biệt (hay còn gọi là tịch thu thu nhập bất hợp pháp) và (iii) Thông qua hợp tác quốc tế, cụ thể như sau:
Một là, tự nguyện trả lại tài sản là việc cá nhân hoặc tổ chức sở hữu tài sản bất hợp pháp đó tự nộp lại tài sản cho cơ quan nhà nước. Theo đó, tự nguyện trả lại tài sản phải được tiến hành trước khi có bản án, trước khi nghi phạm bị kết tội. Theo khoản 3 Điều 283 Bộ luật Hình sự (BLHS) Trung Quốc năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), cá nhân có hành vi tham nhũng với số tiền trên 1.000 Nhân dân tệ và dưới 10.000 Nhân dân tệ có thể được giảm nhẹ hình phạt, hoặc được miễn hình phạt nếu họ tỏ ra ăn năn sau khi đã phạm tội và tích cực trả lại số tiền mà họ đã thu được một cách bất hợp pháp. Theo Điều 31 Luật giám sát Trung Quốc năm 2018, trường hợp người bị điều tra về tội danh liên quan đã tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt và tự nguyện hoàn trả những khoản lợi bất chính để giảm bớt tổn thất, thì có thể nhận hình phạt nhẹ hơn hình phạt được đưa ra từ phía cơ quan giám sát sau khi chuyển vụ án cho Viện kiểm sát. Việc tự nguyện trả lại tài sản bất hợp pháp để khắc phục hậu quả có thể diễn ra trong bất cứ giai đoạn nào của quy trình tố tụng hình sự, miễn là trước khi có bản án kết tội người đó. Theo đó, đây sẽ được coi là một trong những căn cứ để giảm nhẹ hoặc miễn trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết, nhóm tác giả không xét đến nội dung này, do “tự nguyện trả” chỉ là một biện pháp của nhà nước, không được tiến hành theo một tiến trình cụ thể như quy trình THTS bất hợp pháp không qua thủ tục kết tội.
Hai là, tịch thu thu nhập bất hợp pháp là phương thức đặc biệt trong tố tụng hình sự, nhằm tịch thu tài sản bất hợp pháp hoặc tài sản liên quan đến tội phạm mà không thông qua thủ tục kết tội. Theo Điều 298 đến Điều 301 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) Trung Quốc năm 1979 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định về thủ tục đặc biệt đối với việc tịch thu tài sản trong trường hợp nghi phạm đã bỏ trốn hoặc qua đời.
Ba là, THTS thông qua hợp tác quốc tế (MLA) là hình thức thông qua các thỏa thuận và hiệp định quốc tế để truy tìm, phong tỏa, tịch thu và THTS phạm tội đã được chuyển ra nước ngoài. Trung Quốc đã ký kết nhiều hiệp định hợp tác tư pháp hình sự, như UNCAC và đặc biệt được cụ thể hóa trong Luật tương trợ tư pháp hình sự quốc tế của Trung Quốc năm 2018.
2.2. Căn cứ thu hồi tài sản bất hợp pháp không qua thủ tục kết tội
Điều 298 BLTTHS Trung Quốc năm 1979, sửa đổi, bổ sung năm 2018 (gọi tắt là BLTTHS Trung Quốc năm 2018) quy định, trong các vụ án phạm tội tham nhũng, hối lộ, khủng bố và các vụ án nghiêm trọng khác, nếu nghi phạm hoặc bị cáo bỏ trốn, không ra trình diện sau một năm bị truy nã, hoặc nghi phạm hay bị cáo đã chết, nhưng theo quy định của pháp luật hình sự cần phải truy thu tài sản bất hợp pháp và các tài sản liên quan khác, thì Viện kiểm sát có thể nộp đơn lên Tòa án để yêu cầu tịch thu tài sản bất hợp pháp. Căn cứ được xác định theo các yếu tố sau:
Thứ nhất, giới hạn áp dụng thủ tục tịch thu đặc biệt là các vụ án phạm tội tham nhũng, hối lộ, khủng bố và các tội phạm nghiêm trọng khác:
Theo Điều 298 BLTTHS Trung Quốc năm 2018, thủ tục tịch thu đặc biệt chỉ áp dụng cho các tội tham nhũng, hối lộ, khủng bố và không nên mở rộng sang các phạm vi tội phạm nghiêm trọng khác. Tuy nhiên, tại Điều 1 Quy định của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc về một số vấn đề liên quan đến việc áp dụng thủ tục tịch thu thu nhập bất hợp pháp trong các vụ án bỏ trốn và chết của bị can, bị cáo hình sự năm 2017 (sau đây gọi tắt là Quy định năm 2017) đã mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục này cho 05 loại tội phạm và 03 hành vi vi phạm, thay vì 02 nhóm tội phạm tham nhũng, hối lộ và khủng bố như BLTTHS Trung Quốc năm 2018 quy định, cụ thể bao gồm: Tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội buôn lậu, tội gian lận tài chính, tội phạm có tổ chức, tội phạm về ma túy, rửa tiền, lừa đảo qua mạng và lừa đảo trên mạng.
Mặt khác, các vụ án áp dụng thủ tục đặc biệt này còn phải đạt mức độ “nghiêm trọng” về tình tiết[2]. Theo Điều 507 Giải thích BLTTHS Trung Quốc năm 2012, vụ án nghiêm trọng bao gồm: (i) Các vụ án mà nghi phạm hoặc bị cáo có thể bị kết án tù chung thân hoặc tử hình; (ii) Các vụ án gây ảnh hưởng lớn trong phạm vi tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương hoặc trên toàn quốc; (iii) Các vụ án nghiêm trọng khác. Ngoài các tiêu chí về mức hình phạt và ảnh hưởng xã hội đã nêu, cần xem xét thêm giá trị tài sản liên quan khi đánh giá mức độ nghiêm trọng, tình tiết “nghiêm trọng” phải đồng thời thỏa mãn các yêu cầu về giá trị tài sản lớn và mức hình phạt hoặc ảnh hưởng xã hội[3].
Thứ hai, các yêu cầu mở thủ tục tịch thu đặc biệt: (i) Đã khởi tố vụ án hình sự. Căn cứ Điều 298 BLTTHS Trung Quốc năm 2018, “nghi phạm” là thuật ngữ chỉ những người đã bị khởi tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, do đó, để khởi xướng quy trình thủ tục tịch thu đặc biệt phải dựa trên điều kiện tiên quyết là đã khởi tố vụ án; (ii) Bị can, bị cáo lẩn trốn bị truy nã trong 01 năm mà không bị bắt hoặc đã chết. Nghi phạm, bị cáo để tránh bị điều tra và truy cứu trách nhiệm hình sự đã bỏ trốn, ẩn náu, hoặc trốn thoát trong quá trình TTHS, bất kể địa điểm trốn chạy là trong nước hay nước ngoài. Trên thực tế, hành vi lẩn trốn có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn: Xảy ra sau khi vụ án được phát hiện hoặc trước đó; có thể bao gồm việc cắt đứt liên lạc, lẩn trốn hoặc sống ở nước ngoài với địa chỉ rõ ràng, thậm chí có thể đã được cấp cư trú “hợp pháp” tại nước ngoài. Dù trong hoàn cảnh nào, nếu mục đích là trốn tránh điều tra và truy cứu trách nhiệm hình sự, thoát khỏi sự kiểm soát và giám sát của cơ quan quản lý vụ án hoặc từ chối ra trình diện khi đang ở nước ngoài, thì đều được coi là “trốn chạy” theo khoản 1 Điều 298 BLTTHS Trung Quốc năm 2018. Đối với khái niệm “tử vong”, ngoài trường hợp tử vong tự nhiên, pháp luật Trung Quốc cũng xác định một số trường hợp khác được coi là “đã chết”. Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp coi một người đã tử vong được giải quyết như tình trạng “bỏ trốn” (Ví dụ: Nghi phạm hoặc bị cáo mất tích trong 02 năm do tai nạn bất ngờ, hoặc mất tích do tai nạn bất ngờ và được cơ quan liên quan xác nhận là không thể sống sót, sẽ được xử lý theo quy định tại khoản trước)[4].
Thứ ba, tài sản thu hồi theo thủ tục tịch thu đặc biệt:
Tài sản mà thủ tục tịch thu đặc biệt hướng đến là những tài sản cụ thể, tức là tài sản thu nhập bất hợp pháp và các tài sản liên quan khác phải được truy thu theo quy định của BLHS Trung Quốc năm 2020. “Tài sản cần được truy thu” trong phạm vi Điều 298 BLTTHS Trung Quốc năm 2018 vừa khái quát hóa đối tượng truy thu và tịch thu được quy định tại Điều 64 BLHS Trung Quốc năm 2020, vừa loại trừ các tài sản có nguồn gốc và mục đích hợp pháp ra khỏi phạm vi của thủ tục tịch thu đặc biệt. Theo đó, tài sản bị thu hồi bao gồm hai loại là: Thu nhập bất hợp pháp và các tài sản khác liên quan.
Theo khoản 1 Điều 6 Quy định năm 2017, thu nhập bất hợp pháp được định nghĩa là “bất kỳ tài sản nào trực tiếp hoặc gián tiếp được tạo ra hoặc thu được thông qua việc thực hiện hành vi phạm tội”. Đặc điểm chính của loại tài sản này là nguồn gốc bất hợp pháp của nó. Nếu số thu nhập bất hợp pháp đã bị biến đổi một phần hoặc toàn bộ thành tài sản khác, thì tài sản bị biến đổi cũng được coi là thu nhập bất hợp pháp.
Còn tài sản liên quan khác thường là tài sản được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội hoặc các hàng hóa bị cấm. Đặc điểm chính của loại tài sản này là mục đích sử dụng bất hợp pháp của nó. Việc tịch thu tài sản được sử dụng để phạm tội thường giới hạn ở tài sản cá nhân của nghi phạm hoặc bị cáo, bất kể nguồn gốc của tài sản đó là hợp pháp hay không. Tuy nhiên, tài sản của bên thứ ba không được coi là tài sản phải truy thu, trừ trường hợp bên thứ ba biết rõ tài sản đó được sử dụng vào mục đích phạm tội, nhưng vẫn giao cho nghi phạm hoặc bị cáo sử dụng. Trong trường hợp này, tài sản đó sẽ được coi là “tài sản liên quan khác” thuộc phạm vi truy thu.
Thứ tư, tiêu chuẩn chứng minh trong thủ tục tịch thu đặc biệt:
Pháp luật Trung Quốc đã thiết lập một tiêu chuẩn chứng cứ mới, cụ thể: “Nếu tài sản đề nghị tịch thu có khả năng cao thuộc về thu nhập bất hợp pháp và các tài sản liên quan khác, thì được coi là đáp ứng quy định tại Điều 16 của Quy định về việc tài sản đề nghị tịch thu thuộc về thu nhập bất hợp pháp và các tài sản liên quan khác”[5]. Tiêu chuẩn “có khả năng cao” được đề cập, ở một mức độ nhất định, gần giống với tiêu chuẩn “chứng cứ ưu thế, cân bằng xác suất” trong tố tụng dân sự. So với tiêu chuẩn “vượt qua sự nghi ngờ hợp lý” để kết tội trong tố tụng hình sự, tiêu chuẩn “có khả năng cao” trao cho Tòa án quyền tự do cân nhắc lớn hơn và phù hợp hơn với nguyên tắc tư pháp công bằng trong xử lý tranh chấp về tài sản.
2.3. Quy trình thu hồi tài sản bất hợp pháp không qua thủ tục kết tội
Quy trình của thủ tục tịch thu đặc biệt được điều chỉnh tại Chương IV Phần 5 BLTTHS Trung Quốc năm 2018 và Quy định năm 2017, cụ thể như sau:
Thứ nhất, gửi văn bản yêu cầu THTS bất hợp pháp. Thủ tục tịch thu đặc biệt được bắt đầu với yêu cầu của Viện kiểm sát, với Tòa án về việc tịch thu tài sản bất hợp pháp của nghi phạm đang bỏ trốn hoặc đã chết. Bên cạnh đó, Cơ quan công an có quyền lập văn bản yêu cầu tịch thu tài sản bất hợp pháp. Đơn yêu cầu này sẽ thông qua Viện kiểm sát và gửi đến Tòa án. Tòa án là cơ quan quyết định việc THTS bất hợp pháp, đồng thời cũng là chủ thể có quyền niêm phong, tạm giữ và phong tỏa tài sản xin tịch thu để bảo đảm quy trình tố tụng diễn ra hợp pháp. Tòa án sẽ xem xét các dữ kiện và bằng chứng được nêu trong đơn yêu cầu, để xem liệu các điều kiện để chấp nhận có đáp ứng hay không.
Thứ hai, xem xét văn bản yêu cầu. Sau khi Tòa án xem xét đơn yêu cầu tịch thu tài sản trái pháp luật, thì trong thời hạn 30 ngày, Tòa án phải giải quyết theo Điều 9 Quy định năm 2017, cụ thể như sau: (i) Trường hợp thuộc phạm vi yêu cầu tịch thu tài sản bất hợp pháp thuộc thẩm quyền của Tòa án, đầy đủ về tài liệu và có bằng chứng chứng minh tình tiết hình sự thì được thụ lý; (ii) Trường hợp vụ án không thuộc phạm vi yêu cầu tịch thu tài sản bất hợp pháp hoặc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án này, thì đơn được trả lại cho Viện kiểm sát; (iii) Trường hợp đơn yêu cầu không đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn là “có bằng chứng chứng minh sự thật về tội phạm” thì Viện kiểm sát sẽ được thông báo rút đơn và Viện kiểm sát sẽ tiến hành rút đơn; (iv) Nếu tài liệu chưa đầy đủ thì phải thông báo cho Viện kiểm sát để cung cấp tài liệu bổ sung trong vòng 07 ngày. Nếu tài liệu không được cung cấp đầy đủ trong vòng 07 ngày thì tài liệu sẽ được trả lại cho Viện kiểm sát.
Thứ ba, thụ lý văn bản yêu cầu và tiến hành xét xử. Theo Điều 11 đến Điều 16 Quy định năm 2017, sau khi quyết định thụ lý đơn yêu cầu tịch thu tài sản, Tòa án phải ra thông báo trong thời hạn 15 ngày, thời hạn kết thúc thông báo là 06 tháng kể từ ngày ra thông báo. Trong thời gian đó, Tòa án tập trung xem xét vấn đề tài sản, tức là tài sản bị yêu cầu tịch thu có phải là thu nhập trái pháp luật và các tài sản khác có liên quan đến vụ án hay không. Thân nhân của bị cáo và các bên có liên quan khác có quyền nộp đơn xin tham gia tố tụng trong thời hạn 06 tháng và phải cung cấp bằng chứng chứng minh mối quan hệ của mình với nghi phạm, bị cáo hoặc bằng chứng chứng minh rằng họ có thể yêu cầu quyền thu lợi bất hợp pháp và các tài sản khác liên quan đến vụ án. Sau khi hết hạn 06 tháng, Tòa án lập Hội đồng xét xử việc tịch thu tài sản bất hợp pháp và tiến hành mở phiên tòa trong trường hợp có bên liên quan xin tham gia. Nếu một bên liên quan và người đại diện tranh tụng của họ từ chối ra hầu tòa mà không có lý do chính đáng và không có bên liên quan nào khác hoặc người đại diện tranh tụng khác tham gia tố tụng, thì Tòa án có thể không tổ chức phiên xét xử.
Thứ tư, quyết định thu hồi. Sau khi xét xử, thông thường sẽ có các trường hợp sau: (i) Nếu tài sản được xem xét có đầy đủ căn cứ để tịch thu thì ra phán quyết tịch thu; (ii) Nếu tài sản đó thuộc về bị hại thì phải được trao trả lại cho bị hại theo quy định của pháp luật; (iii) Nếu tài sản không thuộc tài sản thu hồi thì bị bác đơn và chấm dứt các biện pháp như niêm phong, giam giữ và đóng băng tài sản[6]. Sau khi Tòa án ra phán quyết như trên, Viện kiểm sát, người thân thích và những người có liên quan khác của bị cáo hoàn toàn có quyền kháng cáo, kháng nghị nếu xét thấy phán quyết trên là không hợp lý. Toàn bộ tài sản thu được sẽ được chuyển vào ngân sách nhà nước phục vụ cho các hoạt động chung của đất nước sau này.
2.4. Hợp tác quốc tế và các biện pháp hỗ trợ thu hồi tài sản bất hợp pháp không qua thủ tục kết tội
Là thành viên của UNCAC, Trung Quốc tuân thủ yêu cầu hợp tác chặt chẽ về tư pháp và hành chính trong việc truy vết và THTS bất hợp pháp. Hơn nữa, Trung Quốc là quốc gia nổi bật trong việc ký kết lên tới 169 hiệp ước và thỏa thuận song phương với 81 quốc gia, trong đó, có quy định về tương trợ tư pháp, các thỏa thuận về trả lại và chia sẻ tài sản[7]. Những hiệp định này quy định chi tiết về thủ tục pháp lý để hỗ trợ lẫn nhau, bao gồm thu thập bằng chứng, phong tỏa và công nhận quyết định tịch thu tài sản của nước ngoài, tạo nền tảng pháp lý cho việc phối hợp truy vết và THTS bất hợp pháp quốc tế. Ngoài ra, Trung Quốc cũng tham gia các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu, như Interpol, để tăng cường khả năng phối hợp quốc tế.
Luật tương trợ tư pháp hình sự quốc tế Trung Quốc quy định về quy trình hỗ trợ tư pháp quốc tế, bao gồm việc đóng băng, tịch thu và chuyển giao tài sản bất hợp pháp xuyên biên giới. Theo đó, khi Trung Quốc cần sự hỗ trợ từ nước ngoài để phong tỏa hoặc thu giữ tài sản liên quan, đơn yêu cầu phải được lập kèm theo các tài liệu liên quan và trình lên cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Cơ quan liên lạc đối ngoại sẽ chịu trách nhiệm gửi yêu cầu này tới nước ngoài. Điều 30 của Luật cũng quy định về tính chi tiết của các thông tin về tài sản liên quan. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định trường hợp quyết định hủy bỏ các biện pháp phong tỏa, cơ quan xử lý vụ án phải thông báo ngay cho phía nước ngoài. Các quốc gia khác cũng có thể yêu cầu sự hỗ trợ từ phía cơ quan tư pháp của Trung Quốc theo nguyên tắc có đi có lại.
3. Một số gợi mở xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thu hồi tài sản bất hợp pháp không qua thủ tục kết tội
Thực tiễn, pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định cơ chế THTS bất hợp pháp không qua thủ tục kết tội nào giống như mô hình được áp dụng tại Trung Quốc. Hầu hết các quy định mới được xây dựng nhằm thực hiện quy trình tố tụng hình sự thông thường hay THTS qua kết tội. Theo đó, việc THTS liên quan đến tội phạm được gắn với một số tội danh và xử lý tội phạm theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. Cụ thể, theo Điều 45 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Tịch thu tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án để nộp vào ngân sách nhà nước”. Trong đó, tài sản bị tịch thu chủ yếu bao gồm các công cụ, số tiền thu được và các lợi ích khác có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến tội phạm[8].
Tuy vậy, phương thức thu hồi theo quy trình truyền thống này đã bộc lộ nhiều hạn chế, khó khăn và chưa thực sự phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế tại UNCAC. Do đó, việc tham khảo, thí điểm mô hình giống như Trung Quốc là cần thiết. So với phương thức THTS truyền thống, mô hình THTS đặc biệt tại Trung Quốc có tính linh hoạt và có khả năng khắc phục những hạn chế trong quy trình thu hồi tại Việt Nam. Điển hình là các trường hợp vụ án và bị can, bị cáo không được xác định rõ ràng (bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc đã chết).
Trên cơ sở những kinh nghiệm của Trung Quốc và thực tiễn pháp luật tại Việt Nam, để bảo đảm nâng cao hiệu quả THTS, nhóm tác giả đề xuất bổ sung thủ tục tố tụng đặc biệt này trong tố tụng hình sự. Quá trình hoàn thiện thủ tục này cần nghiên cứu cụ thể, do việc xây dựng một thủ tục hoàn toàn mới có nhiều tác động lên hệ thống pháp luật; theo đó, có quy định thực hiện thí điểm để đề xuất, cần tiến hành sửa đổi, bổ sung với việc sửa đổi quy định khác như quy định tại Điều 45 BLHS năm 2015 để cho phép THTS không qua thủ tục kết tội. Đối với thủ tục mới, qua nghiên cứu của nhóm tác giả, một thủ tục thu hồi đặc biệt đạt hiệu quả về cơ bản phải đáp ứng các nội dung:
Một là, về phạm vi áp dụng thủ tục thu hồi đặc biệt này có thể giới hạn trong các vụ án liên quan đến xâm phạm an ninh quốc gia, tham nhũng và kinh tế.
Hai là, về căn cứ để thu hồi theo thủ tục đặc biệt có thể là mối liên hệ giữa hành vi của một người với tội phạm, tài sản với tội phạm, người sở hữu hoặc chiếm giữ tài sản không giải thích được nguồn gốc hợp pháp của tài sản đó,...[9].
Ba là, về nghĩa vụ chứng minh, nguyên tắc chứng minh. Theo nguyên tắc của tố tụng hình sự Việt Nam, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Việc áp dụng nguyên tắc này vào chứng minh nguồn gốc bất hợp pháp theo thủ tục đặc biệt là không phù hợp với thông lệ quốc tế, cũng như kinh nghiệm của các quốc gia. Theo đó, pháp luật Việt Nam có thể nghiên cứu áp dụng nếu cơ quan nhà nước chứng minh được tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp và chủ sở hữu không đưa ra được bằng chứng hợp lý về nguồn gốc hợp pháp, thì tài sản đó có thể bị thu hồi theo thủ tục do pháp luật quy định. Về tiêu chuẩn chứng minh, có thể nghiên cứu áp dụng linh hoạt các tiêu chuẩn “niềm tin sâu sắc” và “khả năng cao” như tại Trung Quốc để bảo đảm hiệu quả và phù hợp với hệ thống tố tụng hình sự của Việt Nam.
Thứ tư, về xử lý tài sản thu hồi. Trong giai đoạn đầu khi mới áp dụng phương thức này, thì tài sản bị thu hồi phải được đưa vào ngân sách nhà nước. Đối với tài sản nước ngoài thì được thực hiện theo pháp luật quốc tế và các yêu cầu tương trợ tư pháp.
Phạm Quý Đạt - Phùng Khánh Huyền
[1] Lê Minh Trung, Cơ chế thu hồi tài sản bất hợp pháp không qua thủ tục kết tội ở một số nước trên thế giới và tham khảo cho Việt Nam (kỳ 2), https://phaply.net.vn/co-che-thu-hoi-tai-san-bat-hop-phap-khong-qua-thu-tuc-ket-toi-o-mot-so-nuoc-tren-the-gioi-va-tham-khao-cho-viet-nam-ky-2-a256525.html, truy cập ngày 15/12/2025.
[2] Nghiên cứu một số vấn đề về thủ tục tịch thu đặc biệt, https://www.spp.gov.cn/llyj/201508/t20150817_103059.shtml, truy cập ngày 25/12/2025.
[3] Tlđd (2), truy cập ngày 25/12/2025.
[4] Huang Feng, Một số giải thích mới nhất về giải thích pháp lý về thủ tục tịch thu đặc biệt, https://www.ceolaws.net/mobile/Info/View.Asp?id=4075, truy cập ngày 25/12/2025.
[5] Điều 17 Quy định năm 2017.
[6] Điều 300 BLTTHS Trung Quốc năm 2018.
[7] Li Lu (2020), China’s Legal System on the Recovery of Corruption Assets, China University of Political Science and La, tr.15.
[8] Lê Tiến Sinh, Lê Tiến Viên, Kinh nghiệm một số nước về thu hồi tài sản tham nhũng, Tạp chí Kiểm sát, số 10, 2021, tr.58.
[9] Phan Thị Thu Hà, Phùng Thị Hoàn, Nguyễn Thị Hoa, Kiện đòi tài sản và cơ chế thu hồi tài sản không qua kết tội theo thủ tục tố tụng dân sự, https://tapchitoaan.vn/kien-doi-tai-san-va-%C2%A0co-che-thu-hoi-tai-san-khong-qua-ket-toi-theo-thu-tuc-to-tung-dan-su7204.html, truy cập ngày 20/12/2025.
Bài viết chưa có bình luận nào.