1. Bản chất pháp lý của nguyên tắc loại trừ chứng cứ trong tố tụng hình sự
1.1. Khái niệm nguyên tắc loại trừ chứng cứ
Việc loại trừ các chứng cứ (Exclusionary Rules) có liên quan đến quá trình giải quyết vụ án hình sự (VAHS), tác động vào một trong những mục tiêu cơ bản của tố tụng hình sự (TTHS), đó là xác định đầy đủ các tình tiết liên quan (sự thật) làm cơ sở cho phán quyết của Tòa án. Hiện nay, ngày càng nhiều hệ thống pháp luật lựa chọn việc loại trừ chứng cứ (LTCC) như một biện pháp nhằm chống lại các vi phạm trong quá trình thu thập chứng cứ[1].
Lịch sử hình thành nguyên tắc LTCC tại một số quốc gia trên thế giới cho thấy sự phát triển của nguyên tắc này trong TTHS phụ thuộc vào mô hình tố tụng của từng nước. Tại Anh, quyền tùy nghi LTCC có trong cả hệ thống thông luật và theo luật thành văn. Năm 1963, Tòa Phúc thẩm Anh và xứ Wales đã phán quyết trong vụ R v. Payne. Tuy nhiên, án lệ tiêu biểu về quyền tùy nghi LTCC theo thông luật là vụ R v. Sang năm 1980. Trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ, nguyên tắc LTCC được phát triển thành một học thuyết pháp lý rất nổi tiếng và ngày càng được hoàn thiện trong lịch sử. Học thuyết đó là “quả của cây có độc” (the fruit of the poinsonous tree doctrine), có nghĩa mọi chứng cứ (quả - fruit) được thu thập bởi những hành vi vi phạm thủ tục tố tụng (cây bị độc - tained tree) đều phải bị loại trừ[2]. Án lệ đặt nền móng cho mức độ thứ nhất của học thuyết này là Án lệ Weeks v. United States năm 1914. Trong vụ án này, Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã có những nỗ lực bảo vệ các quyền được bảo đảm bởi Tu chính án thứ tư, từ đó thông qua nguyên tắc loại trừ[3]. Sau phán quyết này, học thuyết “quả của cây có độc” đã được hình thành. Đây chính là cấp độ cơ bản của nguyên tắc LTCC trong pháp luật Hoa Kỳ. Nguyên tắc này không chỉ cấm việc sử dụng các chứng cứ được thu thập bất hợp pháp, mà còn cấm việc sử dụng thông tin từ các chứng cứ đó để tiếp tục tìm kiếm các chứng cứ khác. Nếu các chứng cứ được thu thập trực tiếp (chứng cứ sơ cấp) từ quá trình thu thập trái phép tiết lộ các thông tin, tài liệu, chứng cứ khác thì các thông tin, tài liệu, chứng cứ này cũng sẽ bị loại trừ (chứng cứ phái sinh)[4].
Trong khoa học pháp lý Việt Nam, bản chất của chứng cứ trong TTHS là thông tin xác thực về sự kiện thực tế có liên quan đến VAHS. Theo một số quan điểm, trong quá trình chứng minh, cũng có xu hướng LTCC song song với chấp nhận chứng cứ. Loại trừ chứng cứ chủ yếu dựa trên kết quả kiểm tra chứng cứ, là tiền đề, điều kiện cho việc sử dụng chứng cứ; là sự kiểm nghiệm, kiểm tra lại các giá trị chứng cứ và kết quả của quá trình đánh giá chứng cứ. Như vậy, LTCC và sử dụng chứng cứ là hai hoạt động không thể tách rời hoạt động nhận thức về thế giới khách quan và nội dung vụ án[5].
Nguyên tắc trong pháp luật được hiểu là những tư tưởng, quan điểm có tính chất chỉ đạo quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật. Vì vậy, việc xác định LTCC chỉ diễn ra trong quá trình áp dụng pháp luật, tức là hoạt động kiểm tra, đánh giá chứng cứ là chưa toàn diện. Trước hết, nguyên tắc LTCC phải xác định được định hướng để xây dựng các quy định tạo ra hành lang pháp lý để các chủ thể trong TTHS áp dụng trong quá trình kiểm tra, đánh giá chứng cứ, loại bỏ những gì thu thập được không phải là chứng cứ. Vì vậy, có thể hiểu nguyên tắc LTCC trong TTHS là những quy định có tính chất chỉ đạo quá trình xác định giá trị của các chứng cứ thu thập được trong hoạt động TTHS, từ đó đáp ứng yêu cầu về tính hợp pháp của chứng cứ và đồng thời loại bỏ ra khỏi vụ án những gì thu thập được nhưng không phải chứng cứ, không có giá trị chứng minh.
1.2. Cơ sở lý luận của nguyên tắc loại trừ chứng cứ
Xuất phát đầu tiên từ hệ thống TTHS tranh tụng theo truyền thống common law, nguyên tắc LTCC tỏa ra nhiều hệ thống tố tụng khác như thẩm vấn hay hỗn hợp. Tại các quốc gia, việc thừa nhận nguyên tắc LTCC trong TTHS xuất phát từ những cơ sở lý luận như sau:
Thứ nhất, LTCC xuất phát từ nguyên tắc xác định sự thật của VAHS: Để thực hiện đúng chức năng của mình, bất kỳ hệ thống tố tụng nào cũng phải đáp ứng một số yêu cầu cơ bản. Một hệ thống tố tụng vận hành hiệu quả cần bảo đảm rằng Tòa án được nhìn nhận là công bằng và hướng tới việc giải quyết vụ án một cách công bằng, phù hợp với pháp luật; điều này bao hàm việc xác định sự thật của vụ án phải hướng tới “sự thật”, hoặc thực tế hơn, là tránh việc đưa ra các quyết định tố tụng dựa trên những giả định không có thật[6]. Tuy nhiên, trong những trường hợp ngoại lệ, việc đưa vào một số chứng cứ nhất định có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính hợp pháp của quá trình tố tụng.
Với cách tiếp cận này, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 của Việt Nam thừa nhận nguyên tắc xác định sự thật của vụ án tại Điều 15. Theo đó, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội. Như vậy, để xác định sự thật của VAHS, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần phải thu thập chứng cứ đúng pháp luật và cũng đồng nghĩa với việc các cơ quan này phải loại bỏ ra khỏi hồ sơ vụ án những chứng cứ được thu thập bất hợp pháp.
Thứ hai, LTCC xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm tính liêm chính của hoạt động tư pháp: Các quy định của BLTTHS năm 2015 như nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS (Điều 7); nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Điều 17); nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý VAHS (Điều 18); nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra (Điều 19); nguyên tắc trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS (Điều 20)… đều là những nguyên tắc thể hiện tính liêm chính, công bằng, công minh trong hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, làm cơ sở lý luận cho việc xác định nguyên tắc LTCC trong TTHS.
Thứ ba, LTCC xuất phát từ nguyên tắc ngăn ngừa vi phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng: Tại Hoa Kỳ, việc xây dựng nguyên tắc LTCC chủ yếu xuất phát từ lập luận cho rằng việc loại trừ này sẽ ngăn ngừa vi phạm của các chủ thể tố tụng, quan trọng nhất là Cảnh sát trong quá trình thu thập chứng cứ và giải quyết vụ án. Việc LTCC vì mục đích “răn đe” dựa trên giả định rằng các chủ thể tiến hành tố tụng có lợi ích nghề nghiệp mạnh mẽ trong việc đảm bảo người phạm tội bị kết án[7].
Trong mô hình TTHS của Việt Nam, theo Điều 13, 15 BLTTHS 2015, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Trong đó, hoạt động thu thập chứng cứ được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trong trường hợp các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng vi phạm quy định về thu thập chứng cứ thì chứng cứ đó phải bị loại trừ để phòng ngừa khả năng vi phạm của các cơ quan này. Vì vậy, LTCC sẽ góp phần ngăn ngừa vi phạm của các chủ thể tiến hành tố tụng khi ngăn chặn các chủ thể này thu thập chứng cứ bất hợp pháp khi giải quyết vụ án.
Thứ tư, LTCC xuất phát từ những nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong TTHS: Một cách tiếp cận khác của nguyên tắc LTCC là dựa trên yêu cầu bảo vệ quyền con người trong TTHS. Ở Việt Nam, Hiến pháp và BLTTHS quy định các nguyên tắc cơ bản trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân như quy định tại các điều 10, 11, 12 BLTTHS năm 2015. Việc xác định nguyên tắc LTCC là một nội dung cơ bản của bảo đảm các quyền con người trong TTHS. Bởi lẽ, LTCC được áp dụng đúng sẽ góp phần phòng, chống oan sai và bỏ lọt tội phạm, từ đó bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong TTHS.
2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về loại trừ chứng cứ
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và năm 2003 chỉ đề cập khái niệm về chứng cứ, chưa đề cập đến quy định về LTCC. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, ngoài quy định khái niệm chứng cứ thì tại khoản 2 Điều 87 BLTTHS quy định: “Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết VAHS”. Như vậy, lần đầu tiên BLTTHS Việt Nam ghi nhận về LTCC và nhấn mạnh tính hợp pháp của chứng cứ. Trong TTHS, các cơ quan tiến hành tố tụng được trao quyền tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử nhằm làm sáng tỏ sự thật của vụ án. Các hoạt động này đa phần đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các quyền tự do cá nhân[8]. Khoản 2 Điều 87 BLTTHS năm 2015 bao hàm hai vấn đề có tính chất cốt lõi:
(i) Xác định những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định. Điều này có nghĩa, việc xác định chứng cứ có được loại trừ hay không phụ thuộc vào việc đánh giá trình tự, thủ tục để thu thập chứng cứ đó có theo trình tự, thủ tục do BLTTHS hay không? Những hoạt động thu thập chứng cứ được thể hiện ở các hoạt động kiểm tra, xác minh ở giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố hoặc các hoạt động điều tra được tiến hành ở giai đoạn điều tra. Hoạt động thu thập này còn cần phải được thực hiện theo các quy định của các văn bản pháp luật khác có liên quan, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn thi hành. Ví dụ như khi tiến hành trưng cầu giám định tư pháp thì Luật giám định tư pháp là một văn bản có tính chi phối quan trọng hoạt động này của Giám định viên và các cơ quan giám định. Đây là một nội dung cần chú ý khi đánh giá tính chính xác, khách quan của các hoạt động thu thập chứng cứ để từ đó có LTCC hay không?
(ii) Xác định khả năng loại trừ của chứng cứ khi không được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định: Một là, chứng cứ đó sẽ không có giá trị pháp lý; hai là, chứng cứ đó không được dùng làm căn cứ để giải quyết VAHS. Đây là hai hệ quả song hành với nhau, với bản chất chứng cứ không có giá trị pháp lý, không có đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ như quy định tại Điều 86 BLTTHS năm 2015 và không được dùng làm căn cứ để chứng minh trong VAHS theo quy định tại Điều 85 BLTTHS.
Tuy nhiên, khoản 2 Điều 87 BLTTHS năm 2015 hiện chưa quy định cụ thể về phạm vi LTCC. Như lý luận về chứng cứ đã xác định, chứng cứ có thể được phân loại thành chứng cứ sơ cấp (primary evidence) - là các chứng cứ thu được từ hoạt động tố tụng không tuân theo đúng trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định và chứng cứ thứ cấp (chứng cứ phái sinh - derivative evidence) là chứng cứ được thu thập từ một thông tin xuất phát từ các chứng cứ sơ cấp - mà loại chứng cứ này được xác định thu thập không theo trình tự, thủ tục BLTTHS quy định.
Tố tụng hình sự Việt Nam tiếp cận LTCC theo hướng chỉ loại trừ các chứng cứ sơ cấp (primary evidence). Đối với các chứng cứ thứ phát (chứng cứ phái sinh - derivative evidence) thì pháp luật TTHS còn bỏ ngỏ. Ngoài ra, TTHS Việt Nam mới chỉ ghi nhận nguyên tắc LTCC trong một quy định tại khoản 2 Điều 87 BLTTHS năm 2015, mà chưa có những quy định về ngoại lệ hoặc những trường hợp không áp dụng nguyên tắc LTCC.
Trong TTHS Hoa Kỳ, các ngoại lệ này được áp dụng trong các trường hợp: (1) Nếu các chứng cứ trong vụ án được thu thập từ một nguồn độc lập với hoạt động thu thập chứng cứ bất hợp pháp, ví dụ: Trong quá trình hỏi cung bị can, cơ quan điều tra dùng nhục hình, nhưng con dao gây án, được thu thập từ một hoạt động điều tra khác; (2) Việc khám phá ra chứng cứ là sự kiện tất yếu, không thể tránh khỏi dù có hay không sự việc thu thập chứng cứ bất hợp pháp; (3) Nếu mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động bất hợp pháp và việc phát hiện ra chứng cứ là không rõ ràng; (4) Xuất hiện căn cứ ngoại lệ thiện chí (good faith). Đây là một ngoại lệ được hình thành trong quá trình áp dụng nguyên tắc LTCC của TTHS Hoa Kỳ[9].
Việc pháp luật TTHS không LTCC phái sinh sau khi đã LTCC sơ cấp trong các trường hợp nêu trên không làm giảm đi nguy cơ vi phạm thủ tục tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng trong giải quyết vụ án. Vì vậy, việc không quy định về việc LTCC phái sinh dễ dẫn đến tình trạng chấp nhận vi phạm thủ tục để thu thập các chứng cứ sơ cấp nhằm lấy thông tin; từ các thông tin đó mà cơ quan tố tụng sẽ thu thập chứng cứ thứ phát một cách chỉn chu, đúng quy định[10].
3. Đề xuất hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về loại trừ chứng cứ
Từ những phân tích nêu trên, tác giả đề xuất hoàn thiện BLTTHS năm 2015 về LTCC như sau:
Thứ nhất, việc tiếp nhận và sử dụng các lý luận để luận giải cơ sở xây dựng và áp dụng nguyên tắc LTCC trong TTHS: 04 lý thuyết được phân tích tại mục 1.2 của bài viết này đều có cơ sở hợp lý trong việc áp dụng ở Việt Nam. Việc LTCC suy cho cùng là để đạt được mục đích tại Điều 2 của BLTTHS năm 2015. Do đó, việc tham khảo điểm hợp lý của từng lý thuyết hình thành nguyên tắc LTCC là phù hợp trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam hiện nay.
Về xung đột trong quy định về hủy án sơ thẩm để điều tra lại hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung vì vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng với nguyên tắc LTCC, theo chúng tôi, những quy định trên phù hợp với mô hình tố tụng của Việt Nam, theo đó mục tiêu của TTHS là nhằm tìm đến sự thật của vụ án, tìm đến chân lý của vụ việc, trong mô hình này mục tiêu đạt đến là “sự thật tuyệt đối” hay “sự thật khách quan”[11]. Do đó, cần phải hiểu hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung, hay hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại vì những vi phạm, sai lầm trong quá trình điều tra trước đó là hoạt động khắc phục những vi phạm, sai lầm, từ đó tìm đến sự thật khách quan của vụ án và không hoàn toàn mâu thuẫn với yêu cầu của nguyên tắc LTCC.
Thứ hai, về phạm vi áp dụng nguyên tắc LTCC: Cần xây dựng thêm một khoản về vấn đề LTCC đối với các chứng cứ thứ cấp, nếu chứng cứ sơ cấp là cơ sở để thu thập chứng cứ đó được thu thập bất hợp pháp.
Thứ ba, về các ngoại lệ (các trường hợp không áp dụng) của nguyên tắc LTCC: Chúng tôi đề xuất mô hình lập pháp cho quy định về nguyên tắc LTCC trong BLTTHS (sửa đổi, bổ sung) của Việt Nam như sau:
- Loại trừ chứng cứ:
(1). Những gì được thu thập nhưng không bảo đảm tính xác thực, hoặc không liên quan đến vụ án hoặc không hợp pháp thì không được coi là chứng cứ và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.
(2) Những gì được thu thập dựa trên thông tin của chứng cứ đã bị loại trừ theo nội dung (1) nêu trên cũng không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.
(3) Trong quá trình kiểm tra, đánh giá chứng cứ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tiến hành các biện pháp do Bộ luật này quy định để kiểm tra tính xác thực, hợp pháp và liên quan đến vụ án của chứng cứ đã thu thập được.
- Không áp dụng loại trừ chứng cứ:
Trong quá trình kiểm tra, đánh giá chứng cứ, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn sử dụng những chứng cứ thu thập được theo theo nội dung (1) và (2) nêu trên… để giải quyết vụ án nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Chứng cứ đó được thu thập từ một nguồn độc lập với chứng cứ bị loại trừ theo theo nội dung (1) và (2) nêu trên…;
b) Việc thu thập chứng cứ đó là một sự kiện tất yếu, không thể tránh khỏi;
c) Không có mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa việc thu thập chứng cứ đó với chứng cứ bị loại trừ theo nội dung (1) và (2) nêu trên...;
d) Khi những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi thu thập chứng cứ thuộc trường hợp theo nội dung (1) và (2) nêu trên... không biết và không thể biết được việc thu thập chứng cứ trên là vi phạm trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định.
Lê Xuân Lục - Hoàng Hải Yến
Tài liệu tham khảo:
1. Jenia Iontcheva Turner and Thomas Weigend, “The Purposes and Functions of Exclusionary Rules: A Comparative Overview”, S. Gless and T. Richter (eds.), Do Exclusionary Rules Ensure a Fair Trial? Ius Gentium: Comparative Perspectives on Law and Justice Vol.74 (2019), Springer Open publishing, https://link.springer.com/chapter/10.1007/978-3-030-12520-2_8.
2. Lương Thị Mỹ Quỳnh, Xu hướng quy định về nguyên tắc LTCC trong TTHS Hoa Kỳ, Châu Âu và Việt Nam, Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, số 03 (175)/2024.
3. Võ Minh Kỳ - Nguyễn Phương Anh, Học thuyết “quả trên cây độc” trong tư pháp hình sự Hoa Kỳ và khuyến nghị cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 05/2023.
4. Nguyễn Thị Cẩm Thu, LTCC theo luật TTHS Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2022).
5. Silverthorne Lumber Co. v. United States, 251 US 385, 392 (1920).
6. Jenia I. Turner, The Exclusionary Rule as a Symbol of the Rule of Law, SMU Law Review, Vol.67, Is.4/2014, https://scholar.smu.edu/smulr/vol67/iss4/13.
7. Catherine Newcombe, Russia, in criminal procedure: a worldwide study, 397, 432 (Craig Bradley ed., 2d ed. 2007).
8. Stephen C. Thaman, Miranda in Comparative Law, 45 ST. LOUIS U. L.J (2001).
9. Tokson Matthew, Gentithes Michael, The Reality of the Good Faith Exception, The Georgetown Law Journal. Volume 113, issue (3/2025), https://doi.org/10.6084/m9.figshare.24129069.v1.
10. Nguyễn Thị Thủy, Mô hình TTHS Việt Nam và vấn đề áp dụng TTHS tranh tụng, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013.
[1] Jenia Iontcheva Turner and Thomas Weigend, “The Purposes and Functions of Exclusionary Rules: A Comparative Overview”, S. Gless and T. Richter (eds.), Do Exclusionary Rules Ensure a Fair Trial? Ius Gentium: Comparative Perspectives on Law and Justice Vol.74, 2019, Springer Open publishing, tr.255-257, https://link.springer.com/chapter/10.1007/978-3-030-12520-2_8.
[2] Lương Thị Mỹ Quỳnh, Xu hướng quy định về nguyên tắc LTCC trong TTHS Hoa Kỳ, châu Âu và Việt Nam, Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, số 03 (175)/2024, tr. 29.
[3] Võ Minh Kỳ - Nguyễn Phương Anh, Học thuyết “quả trên cây độc” trong tư pháp hình sự Hoa Kỳ và khuyến nghị cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 05/2023, tr.49.
[4] . Võ Minh Kỳ - Nguyễn Phương Anh, tlđd, tr.50.
[5] Nguyễn Thị Cẩm Thu, LTCC theo luật TTHS Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2022) tr.12.
[6] Jenia Iontcheva Turner and Thomas Weigend, tlđd, tr.259.
[7] Jenia Iontcheva Turner and Thomas Weigend, tlđd, tr.261.
[8] Võ Minh Kỳ, Nguyễn Phương Anh, tlđd, tr.53.
[9] Tokson Matthew, Gentithes Michael, The Reality of the Good Faith Exception, The Georgetown Law Journal. Volume 113, issue (3/2025). https://doi.org/10.6084/m9.figshare.24129069.v1.
[10] Võ Minh Kỳ, Nguyễn Phương Anh, tlđd, tr.56.
[11] Nguyễn Thị Thủy, Mô hình TTHS Việt Nam và vấn đề áp dụng TTHS tranh tụng, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013, tr. 40-41.
Bài viết chưa có bình luận nào.