Vai trò của Kiểm sát viên trong các hoạt động điều tra

13/10/2025 09:40

(kiemsat.vn)
Các quy định của BLTTHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 về vai trò của Kiểm sát viên trong các hoạt động điều tra cơ bản đã phù hợp với thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, đảm bảo các hoạt động điều tra được thực hiện tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật, bên cạnh đó, vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện như: Quy định về sự có mặt của Kiểm sát viên trong các hoạt động điều tra; thời điểm Kiểm sát viên kiểm sát hoạt động điều tra…

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nhất là giai đoạn điều tra, để xác định sự thật khách quan của vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng mà chủ yếu là Cơ quan điều tra áp dụng các hoạt động điều tra làm sáng tỏ các vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự. Các hoạt động điều tra nếu được tiến hành khách quan, chặt chẽ, tuân thủ đúng trình tự, thủ tục sẽ góp phần giải quyết đúng đắn vụ án, ngược lại nếu không tuân thủ sẽ dễ dẫn đến sai lầm trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, các hoạt động điều tra có tính cưỡng chế cao nên dễ dẫn đến xâm hại quyền con người, quyền công dân của người tham gia tố tụng nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Vì vậy, với chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) đã có những quy định về vai trò của Kiểm sát viên trong các hoạt động điều tra để thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động điều tra nhằm đảm bảo quá trình giải quyết vụ án được chính xác, khách quan. Các quy định của BLTTHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (BLTTHS năm 2015) về vai trò của Kiểm sát viên trong các hoạt động điều tra cơ bản đã phù hợp với thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, đảm bảo các hoạt động điều tra được thực hiện đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên cần tiếp tục hoàn thiện một số nội dung, cụ thể:

1. Về thời điểm Kiểm sát viên kiểm sát các hoạt động điều tra

Thời điểm Kiểm sát viên kiểm sát các hoạt động điều tra chính là thời điểm các hoạt động điều tra được tiến hành trong quá trình giải quyết vụ án. Theo quy định của BLTTHS năm 2015, trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ được tiến hành các hoạt động điều tra: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, trưng cầu giám định, định giá tài sản. Các hoạt động điều tra khác luật không quy định được tiến hành trước khi khởi tố, nghĩa là các hoạt động đó chỉ được tiến hành sau khi khởi tố vụ án. Tuy nhiên, thực tế giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng cho thấy, việc áp dụng một số hoạt động điều tra khác trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là rất cần thiết. Ví dụ, trong giai đoạn giải quyết tin báo, ngoài các hoạt động điều tra được quy định áp dụng trước khi khởi tố vụ án, một số trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng thêm các hoạt động điều tra khác để củng cố chứng cứ (như hoạt động thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng). Chính vì vậy, Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của lực lượng Công an nhân dân hướng dẫn về việc áp dụng các hoạt động điều tra khác trong giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành công văn giải đáp nội dung này theo hướng mặc dù các biện pháp điều tra này không được quy định cụ thể tại Điều 147 BLTTHS năm 2015 nhưng khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói với tính chất để kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, không được hiểu là những biện pháp điều tra theo các quy định của BLTTHS năm 2015 trong giai đoạn điều tra. Quá trình áp dụng công văn trên thực tế phát sinh hai vấn đề: (1) Đồng thời xuất hiện cùng là hoạt động đối chất, nhận dạng nhưng khi thực hiện trước khi khởi tố được gọi là hoạt động kiểm tra, xác minh; sau khi khởi tố được gọi là hoạt động điều tra; (2) Nếu Cơ quan điều tra (CQĐT) áp dụng các hoạt động điều tra này trong quá trình giải quyết vụ án thì Kiểm sát viên không có căn cứ để kiểm sát, không rõ các hoạt động này tuân thủ theo quy định nào của BLTTHS.

Như vậy, việc tiến hành các hoạt động này rất dễ dẫn đến xâm hại quyền của người tham gia tố tụng và chưa phù hợp về kết cấu logic. Bên cạnh đó, trong các quy định cụ thể về các hoạt động điều tra hiện nay cũng có những nội dung thể hiện ngoài các hoạt động điều tra được quy định tại khoản 3 Điều 147 BLTTHS năm 2015 thì một số các hoạt động điều tra khác cũng có thể được tiến hành trước khi khởi tố vụ án. Theo Điều 191 BLTTHS năm 2015 thì khi cần thiết, Điều tra viên có thể cho bị hại, người làm chứng hoặc người bị bắt, bị tạm giữ, bị can nhận biết giọng nói; hoặc theo quy định tại khoản 1 Điều 203 BLTTHS năm 2015 thì khi cần thiết, Điều tra viên tiến hành xem xét dấu vết của tội phạm hoặc các dấu vết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án trên thân thể người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị hại, người làm chứng; hoặc theo khoản 3 Điều 204 BLTTHS năm 2015: “... Khi tiến hành thực nghiệm điều tra, Cơ quan điều tra có thể mời người có chuyên môn tham gia. Trường hợp cần thiết, người bị tạm giữ, bị can, người bào chữa, bị hại, người làm chứng có thể tham gia”. Như vậy, khi vụ án chưa khởi tố thì đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, Điều tra viên vẫn có thể tiến hành hoạt động nhận biết giọng nói mà không phải đợi đến khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can mới được tiến hành hoạt động nhận biết giọng nói.

Về việc lựa chọn các hoạt động điều tra được tiến hành trước khi khởi tố vụ án, tác giả không đồng tình với ý kiến cho rằng cần bổ sung hoạt động đối chất được tiến hành trước khi khởi tố vụ án: “Trong giai đoạn giải quyết tin báo tội phạm, mặc dù chưa có quyết định khởi tố vụ án hình sự, chưa có quyết định khởi tố bị can, nhưng xét thấy có mâu thuẫn mang tính chất quyết định để xem xét có khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hay không thì cần thiết phải cho tiến hành đối chất, đây là cơ sở, nguồn chứng cứ để giải quyết vụ án”. Do đó, tác giả đề nghị bổ sung các hoạt động điều tra được tiến hành trước khi khởi tố vụ án là: Nhận dạng; nhận biết giọng nói; lấy lời khai người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi hoặc nghĩa vụ liên quan đến vụ án; thực nghiệm điều tra; xem xét dấu vết trên thân thể; khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu theo tinh thần hướng dẫn của Bộ Công an (riêng đối với hoạt động đối chất, tác giả không đề nghị bổ sung bởi lẽ hoạt động đối chất chỉ được tiến hành khi đã áp dụng các hoạt động điều tra khác mà không có kết quả). Theo đó, cần bổ sung vào khoản 3 Điều 147 BLTTHS năm 2015 nội dung sau:

“Điều 147. Thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

3. Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành các hoạt động:

...

e) Nhận dạng, nhận biết giọng nói; lấy lời khai người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi hoặc nghĩa vụ liên quan đến vụ án; thực nghiệm điều tra; xem xét dấu vết trên thân thể, khám xét; thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu”.

2. Quy định về sự có mặt của Kiểm sát viên trong các hoạt động điều tra

Thứ nhất, BLTTHS năm 2015 đã có những điều chỉnh hợp lý về quyền hạn của Kiểm sát viên trong việc tiến hành, tham gia các biện pháp điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự; việc quy định cụ thể như vậy đã giúp tránh khỏi những chồng chéo về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên và CQĐT, không gây ảnh hưởng đến hoạt động của CQĐT. Tuy nhiên, những quy định này vẫn chưa thực sự tối ưu.

Hoạt động hỏi cung bị can là một biện pháp điều tra phổ biến, thường xuyên mà quá trình giải quyết mọi vụ án đều phải tiến hành, theo Điều 183 BLTTHS năm 2015, trừ trường hợp Kiểm sát viên trực tiếp tiến hành hoạt động điều tra hỏi cung bị can thì khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên cũng có thể tham gia các buổi hỏi cung bị can do CQĐT tiến hành. Tuy nhiên, việc Kiểm sát viên tham gia hoạt động hỏi cung bị can do CQĐT tiến hành được quy định trong BLTTHS còn mang tính chất tùy nghi, khi “xét thấy cần thiết”. Từ thực tiễn cho thấy, cần phải sửa đổi quy định về sự tham gia của Kiểm sát viên trong hoạt động hỏi cung bị can do CQĐT tiến hành theo hướng quy định đây là trách nhiệm của Kiểm sát viên, là một trong những nhiệm vụ phải thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Việc quy định Kiểm sát viên buộc phải tham gia buổi hỏi cung sẽ tránh việc Điều tra viên bức cung, dùng nhục hình hoặc mớm cung để làm sai lệch sự thật khách quan của vụ án, đảm bảo tính khách quan của bản cung và là chứng cứ hữu hiệu để hỗ trợ Kiểm sát viên trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa; quy định này còn giúp nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên, nắm bắt kịp thời những thông tin, vấn đề trong quá trình hỏi cung mà CQĐT có thể bỏ sót. Ngoài ra, sự tham gia bắt buộc của Kiểm sát viên trong các buổi hỏi cung do CQĐT tiến hành giúp nâng cao trình độ, năng lực của Điều tra viên và chất lượng bản cung vì có sự kiểm sát của Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên phải nghiên cứu kỹ lưỡng hồ sơ vụ án trước khi tiến hành hỏi cung để có câu hỏi phù hợp, đúng trọng tâm vụ án; có chiến thuật và phương pháp hỏi hợp lý để khai thác tối đa những thông tin liên quan đến vụ án, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động truy tố của của Viện kiểm sát sau này. Trước mắt, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 183 BLTTHS năm 2015 theo hướng:

“Điều 183. Hỏi cung bị can

... Trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung. Kiểm sát viên bắt buộc phải tham gia việc hỏi cung bị can lần đầu của Điều tra viên”.

Thứ hai, theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì một số hoạt động điều tra không có quy định cho Kiểm sát viên được phép trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra. Cụ thể, theo quy định tại các điều 190, 191, 203 BLTTHS năm 2015 về hoạt động nhận dạng, nhận biết giọng nói, xem xét dấu vết trên thân thể, Kiểm sát viên không có quyền trực tiếp tiến hành hoạt động này. Cụ thể, khoản 1 Điều 191 BLTTHS năm 2015 quy định: “...Trước khi tiến hành nhận biết giọng nói, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc nhận biết giọng nói. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc nhận biết giọng nói. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản nhận biết giọng nói”. Khoản 1 Điều 190 BLTTHS năm 2015 quy định: “Trước khi tiến hành nhận dạng, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc nhận dạng. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc nhận dạng. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản nhận dạng”. Đối với quy định tại Điều 203 BLTTHS năm 2015 về biện pháp xem xét dấu vết trên thân thể thì không có quy định về việc Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát hoạt động xem xét dấu vết trên thân thể. Do đó, với trường hợp Kiểm sát viên không có mặt để kiểm sát hoạt động nhận dạng, nhận biết giọng nói và xem xét dấu vết trên thân thể, Kiểm sát viên phải kiểm sát theo quy định tại khoản 5 Điều 88 BLTTHS năm 2015 đối với biên bản thực hiện các hoạt động này của CQĐT: “… 5. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát theo quy định của Bộ luật này thì CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển biên bản, tài liệu này cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án. Trường hợp do trở ngại khách quan thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày. Trong thời hạn 03 ngày, Viện kiểm sát đóng dấu bút lục và sao lưu biên bản, tài liệu lưu hồ sơ kiểm sát và bàn giao nguyên trạng tài liệu, biên bản đó cho CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Việc giao, nhận tài liệu, biên bản được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này”. Như vậy, trong trường hợp Kiểm sát viên chỉ kiểm sát qua biên bản, hồ sơ, tài liệu mà phát hiện có mâu thuẫn hoặc có dấu hiệu của việc vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát không thể trực tiếp cử Kiểm sát viên thực hiện các hoạt động này. Riêng đối với trường hợp biện pháp xem xét dấu vết trên thân thể theo Điều 203 BLTTHS năm 2015, Kiểm sát viên không có quyền trực tiếp thực hiện, đồng thời cũng không có quyền kiểm sát trực tiếp; quy định như hiện nay là không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát. Bên cạnh đó, hiện nay, Viện kiểm sát có quyền trực tiếp giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 BLTTHS năm 2015, cụ thể: “... c) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục”, nên cùng với việc bổ sung các hoạt động điều tra được tiến hành trước khi khởi tố vụ án, cần quy định Viện kiểm sát, Kiểm sát viên có quyền trực tiếp thực hiện tất cả các hoạt động điều tra mà không ngoại trừ một hoạt động điều tra nào, đồng thời, bổ sung quy định về quyền kiểm sát trực tiếp của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đối với hoạt động điều tra xem xét dấu vết trên thân thể và một số hoạt động điều tra khác do BLTTHS hiện không có quy định về quyền kiểm sát trực tiếp khi xét thấy cần thiết. Cụ thể, Điều 186, 188 BLTTHS năm 2015 về lấy lời khai người làm chứng; triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự không quy định về sự có mặt của Kiểm sát viên khi Điều tra viên tiến hành các hoạt động này. Do đó, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung theo hướng sau:

Điều 186. Lấy lời khai người làm chứng

... 3. Trước khi lấy lời khai, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc lấy lời khai, Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc lấy lời khai. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản lấy lời khai…

Điều 190. Nhận dạng

... 6. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể tiến hành nhận dạng. Việc nhận dạng được tiến hành theo quy định tại Điều này.

Điều 191. Nhận biết giọng nói

... 6. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể tiến hành nhận biết giọng nói. Việc nhận biết giọng nói được tiến hành theo quy định tại Điều này.

Điều 203. Xem xét dấu vết trên thân thể

... 3. Trước khi tiến hành hoạt động xem xét dấu vết trên thân thể, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết về thời gian và địa điểm tiến hành. Trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát cử Kiểm sát viên tham gia kiểm sát việc xem xét dấu vết trên thân thể hoặc Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành hoạt động xem xét dấu vết trên thân thể.

Đặng Văn Thực

Trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền nhân thân trên mạng xã hội

(Kiemsat.vn) - Hiện nay, đã có nhiều trường hợp lợi dụng mạng xã hội như facebook, zalo, youtube… để xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, đời tư của người khác xâm phạm đến các quyền nhân thân của con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Dưới khía cạnh pháp luật dân sự, người có hành vi xâm phạm các quyền nhân thân trên mạng xã hội có thể phải chịu trách nhiệm gì, những biện pháp nào có thể được áp dụng. Bài viết dưới đây tập trung phân tích, làm rõ những vấn đề này.
(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang