Quy định mới về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô từ ngày 16/11/2026

06/10/2026 09:22

(kiemsat.vn)
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đã ký ban hành Nghị định số 379/2026/NĐ-CP ngày 2/10/2026 quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô. Nghị định quy định các nhóm xe gồm xe ô tô phục vụ công tác các chức danh; xe ô tô phục vụ công tác chung; xe ô tô chuyên dùng và xe ô tô phục vụ lễ tân nhà nước.

Quy định cụ thể số lượng xe phục vụ công tác chung

Đối với các cục loại 1 và tương đương trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở Trung ương, tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô phục vụ công tác chung được xác định trên cơ sở tổng số lượng biên chế của các cơ quan, đơn vị thuộc, trực thuộc. Trường hợp đơn vị trực thuộc có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng và có từ 20 biên chế trở lên thì thực hiện theo quy định riêng.

Đối với các đơn vị ngành dọc đóng trên địa bàn cấp tỉnh hoặc liên tỉnh, thành phố, Nghị định quy định số lượng xe căn cứ vào số biên chế. Cụ thể, đơn vị có đến 40 biên chế được bố trí tối đa 1 xe; trên 40 đến 80 biên chế được bố trí tối đa 2 xe; trên 80 đến 120 biên chế được bố trí tối đa 3 xe. Đối với đơn vị có trên 120 biên chế, ngoài số xe được xác định theo mức trên, cứ tăng thêm 50 biên chế được bổ sung 1 xe.

Trường hợp đơn vị ngành dọc có đơn vị thuộc, trực thuộc được giao quản lý địa bàn có diện tích tự nhiên từ 450 km² trở lên hoặc từ 10 xã trở lên, số biên chế của các đơn vị này không tính vào biên chế của đơn vị ngành dọc để xác định định mức. Mỗi đơn vị thuộc, trực thuộc đáp ứng một trong các tiêu chí nêu trên được bổ sung 1 xe vào tiêu chuẩn, định mức của đơn vị ngành dọc.

Ngoài số xe được xác định theo biên chế, đơn vị ngành dọc còn có thể được bổ sung xe căn cứ đặc điểm địa bàn. Đối với đơn vị đóng trên địa bàn một tỉnh, thành phố, trường hợp địa phương có diện tích tự nhiên từ 9.000 km² đến dưới 12.000 km² được bổ sung 1 xe; từ 12.000 km² trở lên, cứ tăng thêm 3.000 km² được bổ sung 1 xe.

Địa phương có trên 50% số đơn vị hành chính cấp xã là xã miền núi, xã đảo, xã đặc biệt khó khăn được bổ sung 1 xe. Trường hợp tỉnh, thành phố tự cân đối được ngân sách nhà nước cũng được bổ sung 1 xe.

Đối với đơn vị ngành dọc đóng trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố, cứ mỗi tỉnh, thành phố thuộc địa bàn quản lý, ngoài tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở chính, được bổ sung 1 xe.

Nghị định đồng thời quy định mức bổ sung căn cứ tổng diện tích tự nhiên của các tỉnh, thành phố thuộc địa bàn quản lý. Theo đó, địa bàn có tổng diện tích từ 15.000 km² đến dưới 18.000 km² được bổ sung 1 xe; từ 18.000 km² đến dưới 21.000 km² được bổ sung 2 xe; từ 21.000 km² đến dưới 24.000 km² được bổ sung 3 xe; từ 24.000 km² trở lên, cứ tăng thêm 3.000 km² được bổ sung 1 xe.

Đơn vị ngành dọc có địa bàn quản lý với trên 50% số đơn vị hành chính cấp xã là xã miền núi, xã đảo, xã đặc biệt khó khăn được bổ sung 1 xe; trường hợp trụ sở chính đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố tự cân đối được ngân sách nhà nước cũng được bổ sung 1 xe. Nếu đáp ứng nhiều tiêu chí, số lượng xe tối đa được bổ sung là tổng số xe theo các tiêu chí đáp ứng.

Đáng chú ý, đối với cấp xã, đối tượng áp dụng gồm Đảng ủy cấp xã, Hội đồng nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và đơn vị sự nghiệp cấp xã. Tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô phục vụ công tác chung là tối đa 2 xe/xã.

Trường hợp cấp xã có đơn vị sự nghiệp trực thuộc, không bao gồm đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo, có từ 20 biên chế trở lên, số xe của đơn vị sự nghiệp trực thuộc được xác định theo quy định riêng và cộng vào định mức sử dụng xe ô tô của cấp xã.

Mức giá xe tối đa đến 4,8 tỷ đồng đối với một số nhiệm vụ đặc thù

Nghị định số 379/2026/NĐ-CP cũng quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô phục vụ công tác chung của các đơn vị sự nghiệp trực thuộc bộ, cơ quan Trung ương, Tỉnh ủy, Thành ủy và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Đối với đơn vị sự nghiệp cấp bộ, cấp tỉnh thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo, số lượng xe được xác định theo biên chế. Đơn vị có đến 100 người được sử dụng tối đa 1 xe; trên 100 đến 300 người tối đa 2 xe; trên 300 đến 500 người tối đa 3 xe; trên 500 đến 1.000 người tối đa 4 xe; trên 1.000 đến 2.000 người tối đa 5 xe và trên 2.000 người tối đa 6 xe.

Đối với đơn vị sự nghiệp ngoài lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đơn vị có đến 50 biên chế được sử dụng tối đa 1 xe; trên 50 đến 100 người tối đa 2 xe; trên 100 đến 200 người tối đa 3 xe; trên 200 đến 500 người tối đa 4 xe; trên 500 đến 1.000 người tối đa 5 xe và trên 1.000 người tối đa 6 xe.

Trường hợp các đơn vị sự nghiệp này có đơn vị trực thuộc có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng, Nghị định quy định cách xác định định mức dựa trên số biên chế. Đơn vị trực thuộc có dưới 20 biên chế được tổng hợp vào biên chế của đơn vị cấp bộ, cấp tỉnh; đơn vị có từ 20 biên chế trở lên không tổng hợp và được xác định số xe riêng theo lĩnh vực hoạt động.

Nếu đơn vị có các phân viện, phân hiệu đặt tại tỉnh, thành phố khác với nơi đặt trụ sở chính thì cứ mỗi phân viện, phân hiệu được bổ sung 1 xe vào tiêu chuẩn, định mức của đơn vị.

Đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên, người đứng đầu đơn vị có thể xem xét, quyết định bổ sung số lượng xe ngoài định mức trên cơ sở yêu cầu thực hiện nhiệm vụ và nguồn kinh phí được phép sử dụng, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả.

Tuy nhiên, số xe được bổ sung theo cơ chế này không được sử dụng ngân sách nhà nước để mua sắm. Đơn vị phải báo cáo số lượng xe, bao gồm cả số xe bổ sung, với cơ quan, người có thẩm quyền và cơ quan quản lý cấp trên nếu có.

Về mức giá, Nghị định quy định giá mua xe ô tô phục vụ công tác chung tối đa 950 triệu đồng/xe. Trường hợp cần thiết phải trang bị xe từ 12 đến 16 chỗ ngồi, mức giá tối đa là 1,3 tỷ đồng/xe; đối với xe ô tô 2 cầu loại 7 hoặc 8 chỗ ngồi, mức giá tối đa là 1,6 tỷ đồng/xe. Các mức giá này không áp dụng đối với những trường hợp thuộc các quy định đặc thù tiếp theo.

Đối với một số nhiệm vụ đặc thù, Nghị định cho phép trang bị một số xe ô tô có công suất lớn trong số xe phục vụ công tác chung. Các nhiệm vụ này bao gồm công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng; công tác tổ chức xây dựng Đảng, công tác cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ; quản lý, vận chuyển hồ sơ, tài liệu mật; các nhiệm vụ có yêu cầu cơ động, bảo mật cao; phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, kiểm soát dịch bệnh; phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại; kiểm tra, giám sát các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội; hoạt động giám sát, tiếp xúc cử tri; công tác đối ngoại, tiếp khách quốc tế và một số nhiệm vụ đặc thù khác.

Theo đó, mỗi cơ quan, đơn vị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, mỗi bộ, Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cơ quan Trung ương, tỉnh, thành phố được trang bị 1 xe có mức giá tối đa 4,8 tỷ đồng/xe và 2 xe có mức giá tối đa 3,5 tỷ đồng/xe.

Riêng các đô thị loại đặc biệt được trang bị 2 xe có mức giá tối đa 4,8 tỷ đồng/xe và 2 xe có mức giá tối đa 3,5 tỷ đồng/xe. Đối với cơ quan, đơn vị ở Trung ương có từ 15.000 đến 20.000 biên chế được trang bị thêm 1 xe với mức giá tối đa 3,5 tỷ đồng/xe; trên 20.000 biên chế được trang bị thêm 2 xe với mức giá tối đa tương ứng. Tỉnh, thành phố có diện tích tự nhiên trên 9.000 km² được tăng thêm 1 xe với mức giá tối đa 3,5 tỷ đồng/xe.

Đối với cơ quan, đơn vị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, bộ, cơ quan Trung ương, Tỉnh ủy, Thành ủy có các chức danh quy định tại Nghị định, ngoài số xe thuộc nhóm trên còn được trang bị xe ô tô phục vụ nhiệm vụ đặc thù với mức giá tối đa 5 tỷ đồng/xe. Nghị định đồng thời quy định cụ thể thẩm quyền quyết định số lượng xe áp dụng mức giá này đối với từng cơ quan, đơn vị.

Đối với số lượng xe phục vụ nhiệm vụ đặc thù đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Nghị định số 04/2019/NĐ-CP, Nghị định 379/2026/NĐ-CP quy định tiếp tục thực hiện theo nội dung đã được phê duyệt, không phải báo cáo lại cơ quan, người có thẩm quyền, trừ trường hợp cần điều chỉnh số lượng xe.

Nghị định số 379/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 16/11/2026, là cơ sở để các cơ quan, đơn vị rà soát, xác định và tổ chức thực hiện tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô theo các nhóm đối tượng, nhiệm vụ và điều kiện cụ thể được quy định.

Quy định mới về chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp

(Kiemsat.vn) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 373/2026/NĐ-CР, ngày 30/9/2026, về chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp. Trong đó nêu rõ, việc chuyển đổi phải phù hợp với chủ trương đường lối của Đảng, Chính phủ về nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.
(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang