Vai trò lãnh đạo của Chi bộ VKSND khu vực 6 (Hưng Yên) trong chuyển đổi số

14/09/2026 16:07

(kiemsat.vn)
Thách thức lớn của chuyển đổi số không chỉ là thiết bị mà trước hết là thay đổi thói quen. Cán bộ quen hồ sơ giấy phải học cách khai thác hồ sơ điện tử; Kiểm sát viên làm quen với sơ đồ tư duy, trình chiếu chứng cứ; cán bộ văn phòng sử dụng chữ ký số và hệ thống quản lý văn bản điện tử. Mỗi người đồng thời phải nhận thức an toàn thông tin là trách nhiệm chung, không phải nhiệm vụ riêng của cán bộ công nghệ thông tin.

Có những cuộc cách mạng trong công tác không bắt đầu bằng điều quá lớn lao. Đôi khi, sự thay đổi khởi nguồn từ một cán bộ trước hàng trăm tài liệu cần xử lý, một bảng dữ liệu còn ghi chép thủ công, một hồ sơ cần tra cứu gấp, một hội nghị cần thiết kế phông nền hoặc yêu cầu lãnh đạo phải nắm kịp thời tiến độ giải quyết từng vụ án. Tại VKSND khu vực 6 - Hưng Yên, những “việc khó” như vậy đã trở thành điểm xuất phát của quá trình ứng dụng công nghệ, đổi mới phương thức làm việc.

Ý nghĩa của quá trình này không chỉ nằm ở phần mềm, hồ sơ số hay công cụ trí tuệ nhân tạo (AI), mà còn ở cách Chi bộ nhận diện yêu cầu mới, thống nhất nhận thức, tổ chức lực lượng, phân công trách nhiệm, khuyến khích đảng viên đổi mới, đưa sáng kiến vào thực tiễn và kiểm soát rủi ro trên môi trường số. Chuyển đổi số, vì vậy, cũng là câu chuyện về vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng.

Cụ thể hóa chủ trương thành hành động

VKSND khu vực 6 - Hưng Yên được thành lập trên cơ sở sáp nhập VKSND huyện Kiến Xương và VKSND huyện Tiền Hải, trực thuộc VKSND tỉnh Hưng Yên, thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trên địa bàn 17 xã. Trong điều kiện tổ chức bộ máy, địa bàn và yêu cầu nhiệm vụ có nhiều thay đổi, đơn vị vừa phải bảo đảm chất lượng chuyên môn, vừa đổi mới quản lý, điều hành và từng bước hiện đại hóa hoạt động nghiệp vụ.

Đối với cơ quan tư pháp, công việc gắn với khối lượng lớn hồ sơ, dữ liệu, thời hạn tố tụng cùng yêu cầu nghiêm ngặt về chính xác và bảo mật. Vì thế, một dữ liệu được cập nhật đầy đủ, một hồ sơ được số hóa khoa học, một tiến độ vụ án được theo dõi kịp thời hay một báo cáo được hoàn thành nhanh hơn đều tác động trực tiếp đến chất lượng thực hiện nhiệm vụ. Công nghệ giúp Kiểm sát viên dành thêm thời gian nghiên cứu, đánh giá chứng cứ; giúp lãnh đạo có thông tin để chỉ đạo; đồng thời giảm thao tác hành chính, thủ công.

Sau khi VKSND tối cao ban hành Kế hoạch số 129/KH-VKSTC ngày 23/6/2025 về Phong trào thi đua “Cả nước thi đua đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong ngành Kiểm sát nhân dân”, Chi bộ và lãnh đạo VKSND Khu vực 6 đã tổ chức quán triệt, xây dựng kế hoạch phù hợp thực tế, xác định mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình và phân công trách nhiệm. Nội dung được triển khai qua sinh hoạt Chi bộ, họp cơ quan, sinh hoạt chuyên đề và trao đổi nghiệp vụ; quá trình thực hiện được kiểm tra, đôn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn.

Chi bộ không làm thay công việc chuyên môn, mà tạo sự thống nhất về nhận thức, định hướng nhiệm vụ, phát huy trách nhiệm của đảng viên và tạo động lực để chủ trương trở thành hành động. Nếu con người và tổ chức không thay đổi, công nghệ dễ đứng ngoài quy trình công việc, còn sáng kiến cá nhân khó trở thành phương thức chung. Cách làm của đơn vị được định hình theo trình tự: Thống nhất nhận thức, tổ chức thực hiện, hình thành hành động và tạo ra sản phẩm.

Thách thức lớn của chuyển đổi số không chỉ là thiết bị mà trước hết là thay đổi thói quen. Cán bộ quen hồ sơ giấy phải học cách khai thác hồ sơ điện tử; Kiểm sát viên làm quen với sơ đồ tư duy, trình chiếu chứng cứ; cán bộ văn phòng sử dụng chữ ký số và hệ thống quản lý văn bản điện tử. Mỗi người đồng thời phải nhận thức an toàn thông tin là trách nhiệm chung, không phải nhiệm vụ riêng của cán bộ công nghệ thông tin.

Đơn vị thành lập Tổ công nghệ thông tin do một Kiểm sát viên kiêm nhiệm làm Tổ trưởng, có nhiệm vụ tham mưu về ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số; hỗ trợ, hướng dẫn cán bộ, công chức khai thác phần mềm nghiệp vụ, nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ trong công việc hằng ngày. Cùng với đào tạo, bồi dưỡng tại chỗ về kỹ năng số, chuyển đổi số, an toàn và an ninh mạng, đơn vị lựa chọn cán bộ có năng lực tham gia đào tạo chuyên sâu.

Cách tổ chức này cho phép triển khai công việc ngay trong khi năng lực số của đội ngũ còn chưa đồng đều. Người biết hỗ trợ người chưa thành thạo; nhóm làm tốt hỗ trợ toàn đơn vị; sáng kiến cá nhân được chia sẻ thành kinh nghiệm chung. Qua đó, chuyển đổi số từng bước trở thành năng lực của tập thể, thay vì phụ thuộc vào một số người “giỏi máy tính”.

Chi bộ xác định công nghệ thông tin và chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt; gắn trách nhiệm cá nhân với nhiệm vụ chính trị. Các Kiểm sát viên, cán bộ chủ động tự học, tích lũy kinh nghiệm và ứng dụng công nghệ vào nghiệp vụ. Khi đảng viên đi trước, chủ động thay đổi cách làm và hỗ trợ đồng nghiệp, chủ trương mới tạo được niềm tin và sức lan tỏa trong đơn vị.

Giải pháp số cho bài toán nghiệp vụ

Dấu hiệu của chuyển đổi số thực chất là lựa chọn công nghệ để giải quyết vấn đề cụ thể. Tại VKSND khu vực 6 - Hưng Yên, sản phẩm số xuất phát từ những thao tác tốn thời gian, nhu cầu quản lý dữ liệu, yêu cầu chuẩn hóa tổ chức hội nghị và đòi hỏi nâng cao chất lượng nghiên cứu hồ sơ, tổng hợp thông tin, quản lý tiến độ. Cán bộ, Kiểm sát viên không chỉ sử dụng phần mềm có sẵn mà còn nhìn công việc như một “bài toán” cần giải bằng công nghệ phù hợp.

Phần mềm “Sổ theo dõi thi hành án hình sự” là một ví dụ. Trước khối lượng lớn quyết định, hồ sơ và thông tin cần theo dõi, phương thức thủ công làm phát sinh nhiều thao tác nhập liệu, đối chiếu, tìm kiếm, tổng hợp; việc tổ chức lại địa bàn hành chính càng làm bài toán phức tạp. Phần mềm được xây dựng theo hướng sử dụng AI để nhận diện thông tin từ hình ảnh, tệp PDF, trích xuất dữ liệu và đưa vào các trường của sổ theo dõi. Người sử dụng vẫn kiểm tra, xác nhận trước khi lưu và khai thác dữ liệu.

AI ở đây không thay thế cán bộ mà hỗ trợ các thao tác lặp lại, để cán bộ tập trung kiểm tra, đánh giá và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Phần mềm còn hướng tới tìm kiếm, tổng hợp, xuất dữ liệu, hỗ trợ quản lý theo địa bàn và quy đổi, tổng hợp dữ liệu của 17 xã thuộc phạm vi quản lý. Quy trình hình thành giải pháp được xác định rõ: Phát hiện vấn đề, nhận diện điểm bất tiện, tìm giải pháp, lựa chọn công nghệ, kiểm tra kết quả và đưa vào sử dụng.

Ứng dụng công nghệ được triển khai ở nhiều khâu. Trong quản lý, điều hành, đơn vị sử dụng Zoom, Vmeet và công cụ hỗ trợ xử lý, trình chiếu tài liệu. Trong công tác chuyên môn, Xmind được dùng để báo cáo án bằng sơ đồ tư duy; tài liệu quan trọng được số hóa phục vụ nghiên cứu và xét xử. Đơn vị triển khai chữ ký số, hệ thống quản lý văn bản điều hành, thư điện tử công vụ; khai thác Sổ tay đảng viên điện tử, Trợ lý ảo Kiểm sát viên, Phòng họp không giấy. Các cơ sở dữ liệu về tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự, án hình sự, dân sự, thi hành án dân sự, khiếu nại, tố cáo và trợ giúp pháp lý được xây dựng, khai thác, sao lưu định kỳ. Sáng kiến còn được mở rộng đến phần mềm thiết kế, trình chiếu maket hội nghị.

Những công cụ trên đang tạo thành chuỗi thay đổi từ văn bản đến hồ sơ, từ hồ sơ đến báo cáo, từ báo cáo đến quản lý tiến độ, từ quản lý tiến độ đến chỉ đạo, điều hành. Chuyển đổi số vì thế không được đo đơn thuần bằng số lượng phần mềm, mà bằng mức độ thay đổi cách tổ chức công việc, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ và khả năng hình thành nền nếp chung.

Quản trị dữ liệu gắn với kỷ luật số

Tính đến ngày 31/8/2026, đơn vị đã nhập đầy đủ 100% tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố; 100% án hình sự thụ lý; 100% án tạm đình chỉ và 100% tin báo tạm đình chỉ trên phần mềm quản lý án hình sự của Ngành. Dữ liệu đầy đủ, kịp thời giúp lãnh đạo theo dõi, quản lý, đánh giá tình hình giải quyết án và tạo nền tảng xây dựng cơ sở dữ liệu số.

Kết quả 100% không chỉ là chỉ tiêu kỹ thuật mà còn phản ánh kỷ luật, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Dữ liệu thiếu hoặc chậm cập nhật sẽ làm sai lệch thực tế và hạn chế giá trị của hệ thống đối với hoạt động chỉ đạo. Trong môi trường số, mỗi dữ liệu phải được nhập có trách nhiệm; tài khoản phải được bảo vệ; văn bản điện tử phải xử lý đúng quy trình; hồ sơ số phải lưu trữ, khai thác đúng mục đích. Chuyển đổi số vì thế đồng thời hình thành phong cách làm việc chính xác, có trách nhiệm và dựa trên dữ liệu.

Hiệu quả công nghệ đã được thể hiện trong hoạt động nghiệp vụ. Tài liệu quan trọng trong hồ sơ được số hóa, lưu trữ để Kiểm sát viên thuận tiện tra cứu; hệ thống theo dõi tiến độ giải quyết vụ án giúp lãnh đạo nắm tình hình từng vụ việc và chỉ đạo phù hợp. Đơn vị đã phối hợp tổ chức 69 phiên tòa rút kinh nghiệm, trong đó có 01 phiên tòa rút kinh nghiệm truyền hình trực tuyến hai cấp; thực hiện số hóa hồ sơ và báo cáo bằng sơ đồ tư duy đối với 178 vụ; tổ chức 04 phiên tòa trực tuyến theo Nghị quyết số 33 của Quốc hội. Phía sau mỗi kết quả là sự thay đổi trong cách chuẩn bị hồ sơ, hệ thống hóa thông tin và phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Chuyển đổi số càng sâu thì yêu cầu bảo vệ dữ liệu càng cao, nhất là đối với thông tin về vụ án, người bị buộc tội, người bị hại và tài liệu tố tụng. Giữa tháng 8/2026, đơn vị tổ chức Hội nghị tập huấn về quản lý, sử dụng hệ thống công nghệ thông tin, chuyển đổi số và bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng cho toàn thể cán bộ, công chức, người lao động. Nội dung tập huấn gắn với công việc hằng ngày: Không tự ý kết nối thiết bị cá nhân vào mạng nội bộ; không truy cập đường dẫn, cài đặt phần mềm không rõ nguồn gốc; kịp thời báo cáo khi phát hiện dấu hiệu mất an toàn thông tin.

Các nội dung về quản lý tài khoản, bảo vệ thiết bị, sao lưu dữ liệu, cập nhật phần mềm, phòng, chống mã độc, nhận diện tấn công mạng và quy trình báo cáo, ứng cứu sự cố được trao đổi qua tình huống thực tế. Yêu cầu an toàn còn gắn với số hóa hồ sơ, chữ ký số, trình chiếu chứng cứ, báo cáo án bằng sơ đồ, ghi âm và ghi hình trong tố tụng. Mỗi cán bộ, công chức vừa là người sử dụng công nghệ, vừa là một mắt xích bảo vệ dữ liệu và hệ thống; do đó, lãnh đạo chuyển đổi số cũng là lãnh đạo việc hình thành kỷ luật số.

Nêu gương và kiến tạo môi trường đổi mới

Trực tiếp phụ trách chung và chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động của một đơn vị là trách nhiệm của người đứng đầu, cụ thể là Bí thư Chi bộ, là Viện trưởng. Giá trị của vai trò nêu gương còn nằm ở việc tạo môi trường để cán bộ đổi mới và biến ý tưởng thành giải pháp. Đồng chí Nguyễn Cao Cường, Bí thư, Viện trưởng VKSND Khu vực 6 là người đứng đầu của đơn vị không chỉ yêu cầu ứng dụng công nghệ mà còn trực tiếp triển khai, khuyến khích khai thác AI trong nghiên cứu hồ sơ, tổng hợp thông tin, hỗ trợ xây dựng báo cáo, văn bản nghiệp vụ và tra cứu pháp luật, qua đó góp phần rút ngắn thời gian xử lý, nâng cao chất lượng tham mưu, quản lý và điều hành.

Năm 2025, ba giải pháp hữu ích của Kiểm sát viên, lãnh đạo đơn vị được Hội đồng Khoa học VKSND tỉnh Hưng Yên công nhận, áp dụng. Kết quả này cho thấy tinh thần sáng tạo đang được lan tỏa trong tập thể. Năng lực lãnh đạo của Chi bộ không đo bằng số sản phẩm do Chi bộ trực tiếp tạo ra, mà bằng khả năng xây dựng tập thể biết phát hiện vấn đề, đề xuất giải pháp và chịu trách nhiệm với sáng kiến.

Chuyển đổi số chỉ thực chất khi làm thay đổi cách tổ chức công việc. Báo cáo đẹp hơn nhưng không hỗ trợ nghiên cứu hồ sơ, phần mềm nhiều tính năng nhưng dữ liệu thiếu chính xác, hoặc hệ thống điện tử được thiết lập mà cách làm vẫn như cũ thì mới dừng ở tin học hóa. Thước đo cuối cùng phải là chất lượng thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Từ thực tiễn VKSND khu vực 6 - Hưng Yên, có thể rút ra các bài học:

Một là, cụ thể hóa chủ trương thành mục tiêu, nhiệm vụ, kế hoạch, người phụ trách và kết quả cần đạt. Thay vì nêu yêu cầu chung “đẩy mạnh chuyển đổi số”, cần xác định khâu đang mất thời gian, dữ liệu khó quản lý, hồ sơ cần số hóa và công việc có thể tự động hóa.

Hai là, bắt đầu từ thực tiễn công việc. Giải pháp hữu ích thường xuất phát từ một bất tiện, thao tác lặp lại, nhu cầu quản lý hoặc yêu cầu nghiệp vụ cụ thể. Khi cán bộ được khuyến khích phát hiện vấn đề, đổi mới mới có điều kiện phát triển.

Ba là, phát huy vai trò nêu gương của đảng viên và người đứng đầu. Sự chủ động sử dụng công nghệ, khuyến khích AI, tạo điều kiện nghiên cứu và ghi nhận sáng kiến góp phần tháo gỡ tâm lý e ngại thay đổi, tạo niềm tin trong tập thể.

Bốn là, gắn chuyển đổi số với đào tạo. Tổ công nghệ thông tin, bồi dưỡng tại chỗ, đào tạo chuyên sâu và tự học là những mắt xích cần thiết để biến kỹ năng của cá nhân thành năng lực chung.

Năm là, gắn kỹ năng số với kỷ luật và an toàn. Dữ liệu càng quan trọng thì trách nhiệm bảo vệ càng lớn; thành thạo công nghệ nhưng thiếu ý thức bảo mật vẫn có thể gây rủi ro cho cơ quan, đơn vị.

Sáu là, lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị làm thước đo. Mục tiêu không phải là có nhiều phần mềm, mà là tổ chức công việc khoa học hơn, giảm thao tác thủ công không cần thiết, tăng khả năng kiểm soát, nâng cao chất lượng nghiên cứu và giải quyết công việc, phục vụ tốt hơn chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

Câu chuyện tại VKSND khu vực 6 - Hưng Yên cho thấy một chủ trương lớn có thể được cụ thể hóa từ Chi bộ cơ sở bằng kế hoạch, phân công nhiệm vụ, tổ chức lực lượng công nghệ thông tin, đào tạo cán bộ, số hóa hồ sơ, cập nhật dữ liệu, sử dụng chữ ký số, ứng dụng AI, xây dựng giải pháp phục vụ công việc và chủ động bảo đảm an toàn thông tin. Các hoạt động khác nhau về hình thức nhưng cùng hướng đến đổi mới phương thức thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Công nghệ tiếp tục thay đổi, phần mềm tiếp tục nâng cấp và phương thức làm việc hôm nay có thể lạc hậu vào ngày mai. Điều Chi bộ cần xây dựng không phải một danh mục công cụ cố định, mà là năng lực thích ứng của tổ chức: Không ngừng học, đổi mới, kiểm tra và hoàn thiện. Trong quá trình đó, con người vẫn là trung tâm, còn tổ chức Đảng giữ vai trò định hướng, khơi dậy tinh thần đổi mới và đưa kết quả thành nền nếp.

Nếu chuyển đổi số là một hành trình dài, Chi bộ là nơi tạo sự thống nhất để tập thể cùng đi; nếu công nghệ là công cụ, con người là chủ thể; nếu phần mềm là sản phẩm, thay đổi phương thức làm việc mới là kết quả. Từ một việc khó, cán bộ nhận diện bài toán, hình thành giải pháp và tạo hiệu quả; từ một sáng kiến cá nhân, cách làm được lan tỏa trong tập thể. Đó là ý nghĩa của hành trình từ chủ trương đến hành động số: không chạy theo công nghệ, mà làm tốt hơn nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững về chính trị, trách nhiệm trong công vụ, chủ động đổi mới, làm chủ công nghệ và an toàn trong môi trường số.

(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang