Tập trung nguồn lực làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược
Theo Đề án, phạm vi tái cấu trúc bao gồm việc rà soát, tổ chức hệ thống các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia còn hiệu lực do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan Trung ương phê duyệt theo thẩm quyền. Đồng thời, các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia được phê duyệt mới trong quá trình hoàn thiện và tổ chức thực hiện Đề án cũng được cập nhật nhằm bảo đảm đầy đủ phạm vi, tránh trùng lặp về mục tiêu, nội dung, sản phẩm và nguồn lực.
Mục tiêu chung là tái cấu trúc hệ thống các chương trình thành 06 nhóm theo hướng tinh gọn, đồng bộ, phân định rõ mục tiêu, phạm vi và định hướng kết quả. Các nhóm chương trình được thiết kế nhằm bảo đảm tính liên thông của toàn bộ chuỗi hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ đến ứng dụng, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa sản phẩm.
Một trọng tâm được xác định là tập trung nguồn lực để làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược. Cùng với đó, các chương trình phải cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chính sách, quản trị quốc gia, phát triển văn hóa, xã hội và con người Việt Nam.
Đề án đồng thời đặt yêu cầu nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, bảo đảm liên thông với việc tổ chức thực hiện các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia theo pháp luật về chuyển đổi số. Qua đó góp phần nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh, năng lực tự chủ công nghệ, đồng thời phục vụ yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Giai đoạn 2026 - 2030, Đề án đặt ra một số mục tiêu cụ thể. Trong đó, 100% chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia thuộc phạm vi Đề án được theo dõi tiến độ, đánh giá kết quả và hiệu quả trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.
Đề án phấn đấu hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực; liên thông dữ liệu khoa học với Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia, các trung tâm đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có liên quan.
Cùng với phát triển năng lực nghiên cứu, Đề án đặt mục tiêu hình thành tối thiểu 20 sản phẩm trọng điểm quốc gia và sản phẩm công nghệ chiến lược; phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có tối thiểu 05 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong lĩnh vực khởi nghiệp sáng tạo, mục tiêu là thành lập tối thiểu 250 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trên cơ sở thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, phát triển sản phẩm và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời, hỗ trợ tối thiểu 150 sản phẩm, dịch vụ, giải pháp khởi nghiệp sáng tạo tham gia thử nghiệm, ứng dụng và nhân rộng; hỗ trợ tối thiểu 150 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hoàn thiện quy trình, phát triển sản phẩm mẫu đưa vào sản xuất.
Đề án cũng đặt mục tiêu thu hút vốn đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo đạt tối thiểu bằng 100% tổng kinh phí ngân sách nhà nước đã cấp thực hiện Chương trình quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo.
![]() |
|
Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026 - 2035. |
Tổ chức hệ thống chương trình thành 06 nhóm, tăng cường liên thông và tập trung nguồn lực
Giai đoạn 2026 - 2035, hệ thống các chương trình thuộc phạm vi Đề án được tổ chức thành 06 nhóm gồm: Nhóm chương trình phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; Nhóm chương trình nghiên cứu cơ bản; Nhóm chương trình trọng điểm quốc gia; Nhóm chương trình đổi mới sáng tạo quốc gia; Nhóm chương trình quốc gia đặc biệt; Nhóm chương trình chuyển đổi số quốc gia.
Việc tổ chức thành 06 nhóm nhằm định hướng ưu tiên, tập trung nguồn lực, tăng cường liên thông, theo dõi, đánh giá và điều phối ở quy mô quốc gia. Đề án nhấn mạnh việc phân nhóm không làm phát sinh loại hình chương trình mới, cấp quản lý trung gian, hồ sơ hoặc thủ tục hành chính mới; không làm thay đổi thẩm quyền xây dựng, thẩm định, phê duyệt, quản lý và tổ chức thực hiện chương trình theo quy định của pháp luật.
Các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia thuộc các nhóm được xây dựng, thẩm định, phê duyệt, quản lý và tổ chức thực hiện theo pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Mục tiêu, nội dung chính và kết quả dự kiến của từng nhóm là định hướng để xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả và xem xét phê duyệt chương trình mới thuộc nhóm.
Nhóm chương trình phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tổ chức nghiên cứu, nhóm nghiên cứu mạnh, hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm, cơ sở dữ liệu và hạ tầng kỹ thuật dùng chung. Kết quả hướng tới là các nhóm nghiên cứu đạt trình độ khu vực và quốc tế; mạng lưới hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đầu tư đồng bộ, khai thác hiệu quả.
Nhóm chương trình nghiên cứu cơ bản hướng tới tạo ra tri thức mới, phát triển nền tảng khoa học quốc gia, cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định đường lối, chính sách và tạo nền tảng cho phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược. Các chương trình tập trung vào nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu cơ bản định hướng theo các ưu tiên quốc gia trong khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn. Kết quả dự kiến gồm các công bố khoa học uy tín, phát hiện khoa học mới, sách chuyên khảo, cơ sở dữ liệu khoa học, kiến nghị chính sách, nhân lực khoa học trình độ cao và tài sản trí tuệ phát sinh từ nghiên cứu.
Nhóm chương trình trọng điểm quốc gia tập trung nguồn lực giải quyết các bài toán khoa học và công nghệ lớn, liên ngành, liên lĩnh vực, có tác động quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, quản trị quốc gia, văn hóa, xã hội, con người và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Các chương trình có thể tổ chức thành cụm nhiệm vụ, nhiệm vụ liên ngành, liên lĩnh vực để nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm và hoàn thiện công nghệ, mô hình, giải pháp kỹ thuật, quản lý và xã hội. Kết quả dự kiến gồm quy trình công nghệ, hệ thống giải pháp đồng bộ, sản phẩm trọng điểm, mô hình thí điểm, báo cáo tư vấn chính sách, bộ tiêu chí, bộ chỉ số, cơ sở dữ liệu, tiêu chuẩn, quy chuẩn và công cụ quản lý được ứng dụng trong thực tiễn.
Nhóm chương trình đổi mới sáng tạo quốc gia tập trung hỗ trợ cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp triển khai hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo thông qua ứng dụng, chuyển giao và đổi mới công nghệ; xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật; xác lập, bảo hộ, quản lý và khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời phát triển thị trường khoa học và công nghệ, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp khoa học và công nghệ, thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo.
Chuỗi hoạt động được triển khai từ hoàn thiện, kiểm chứng, ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ đến phát triển sản phẩm, thương mại hóa và mở rộng thị trường, ưu tiên các ngành, lĩnh vực, công nghệ chiến lược và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Nhóm chương trình quốc gia đặc biệt tập trung nguồn lực cho các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt, trong đó có chương trình đặc biệt về công nghệ chiến lược. Nhóm này hướng tới những mục tiêu có quy mô lớn, ý nghĩa đặc biệt đối với phát triển công nghệ chiến lược, nghiên cứu chiến lược và chính sách có giá trị lớn, các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa trong nước, cũng như yêu cầu quốc phòng, an ninh.
Đặc biệt, chương trình phát triển công nghệ chiến lược tập trung làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược. Các chương trình thuộc nhóm được áp dụng cơ chế đầu tư, tài chính, quản lý đặc thù và quản trị rủi ro theo quy định của pháp luật.
Kết quả hướng tới là làm chủ, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược; hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; hình thành năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp, sản xuất trong nước và tài sản trí tuệ của Việt Nam.
Nhóm chương trình chuyển đổi số quốc gia có mục tiêu tổ chức thực hiện các mục tiêu, định hướng của Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số và Chương trình Chuyển đổi số quốc gia; thúc đẩy chuyển đổi số đồng bộ, liên thông trên phạm vi quốc gia, góp phần phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và nâng cao năng lực quản trị quốc gia trên môi trường số.
Theo Đề án, Chương trình Chuyển đổi số quốc gia là tập hợp các nội dung, nhiệm vụ về hoạt động chuyển đổi số, bao gồm các nhiệm vụ liên ngành, liên vùng do cơ quan quản lý nhà nước về chuyển đổi số xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành theo từng thời kỳ, phù hợp với Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số. Kế hoạch chuyển đổi số của bộ, ngành, địa phương được xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện theo pháp luật về chuyển đổi số.
Việc tái cấu trúc toàn diện hệ thống chương trình theo 06 nhóm được kỳ vọng tạo sự thống nhất trong định hướng ưu tiên, tăng khả năng phối hợp, liên thông dữ liệu và điều phối nguồn lực ở quy mô quốc gia. Qua đó, từng bước hình thành chuỗi liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và thương mại hóa, góp phần nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn 2026 - 2035.
Bài viết chưa có bình luận nào.