Quy định mới về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng: Tăng cường kiểm soát, phát hiện sớm và xử lý kịp thời

16/10/2026 15:41

(kiemsat.vn)
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Quy định số 225-QĐ/TW, ngày 14/10/2026, về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, thay thế Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026. Quy định mới có hiệu lực ngay từ ngày ký, với nhiều nội dung đáng chú ý nhằm nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát, tăng cường kiểm soát quyền lực, ứng dụng dữ liệu số và bảo đảm việc xử lý vi phạm kịp thời, nghiêm minh.

Phát hiện sớm vi phạm, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm

Quy định số 225-QĐ/TW tiếp tục xác định kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng; tổ chức đảng và đảng viên vừa phải thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, vừa phải chấp hành sự kiểm tra, giám sát của cấp có thẩm quyền. Điểm nhấn được thể hiện rõ trong yêu cầu công tác kiểm tra, giám sát phải chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục khuyết điểm, vi phạm ngay từ khi mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng. Đồng thời, công tác này phải kịp thời phát hiện nhân tố mới tích cực, bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt và cán bộ dám đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung.

Quy định cũng nhấn mạnh yêu cầu mọi tổ chức đảng, đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, không có ngoại lệ. Việc xử lý kỷ luật không chỉ nhằm răn đe, mà phải gắn với giáo dục, quản lý, giúp tổ chức đảng và đảng viên nhận thức rõ khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa.

Một nội dung đáng chú ý khác là mở rộng và cụ thể hóa các phương thức phát hiện dấu hiệu vi phạm. Dấu hiệu vi phạm có thể được phát hiện thông qua công tác lãnh đạo, quản lý, kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra; báo cáo, kiến nghị; tự phê bình và phê bình; tố cáo, khiếu nại, phản ánh, kiến nghị của tổ chức đảng, đảng viên và Nhân dân; phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng đã được kiểm chứng; đặc biệt là thông qua phần mềm giám sát và hệ thống cơ sở dữ liệu số.

Đây là cơ sở quan trọng để chuyển mạnh công tác kiểm tra, giám sát từ phương thức chủ yếu dựa trên hồ sơ, báo cáo sang kết hợp khai thác dữ liệu, thông tin từ nhiều nguồn, góp phần nâng cao khả năng nhận diện và cảnh báo sớm nguy cơ vi phạm.

Đáng chú ý, Quy định trao cho Ủy ban kiểm tra các cấp những quyền hạn phù hợp với yêu cầu tăng cường kiểm soát, nâng cao chất lượng xác minh. Ủy ban kiểm tra có quyền yêu cầu tổ chức đảng, đảng viên cung cấp hồ sơ, tài liệu, dữ liệu liên quan; được quyền kết nối cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước trong các lĩnh vực như ngân hàng, chứng khoán, đăng ký tài sản, đất đai, thuế, thanh tra, kiểm toán, truy tố, xét xử, thi hành án và các cơ sở dữ liệu khác để phục vụ công tác kiểm tra, giám sát, theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Trong quá trình kiểm tra, giám sát, Ủy ban kiểm tra còn được sử dụng một số biện pháp như ghi âm, ghi hình, niêm phong hồ sơ, tài liệu; yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản, tạm hoãn xuất cảnh và các biện pháp khác theo quy định. Những quy định này góp phần tăng tính chủ động, thực chất và hiệu quả của công tác kiểm tra, nhất là đối với những vụ việc phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến tài sản, tài chính và nhiều lĩnh vực quản lý.

Cùng với đó, Quy định nhấn mạnh hơn yêu cầu kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong chính công tác kiểm tra, thi hành kỷ luật Đảng và trong các lĩnh vực thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, công tác cán bộ, đầu tư công, quản lý tài chính, tài sản công, xây dựng và thực thi pháp luật. Khi các cơ quan chức năng phát hiện vi phạm liên quan đến đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý, phải chuyển thông tin, hồ sơ, tài liệu liên quan cho Ủy ban kiểm tra cùng cấp để kiểm tra, xử lý theo quy định của Đảng.

Xử lý kỷ luật chặt chẽ, đồng bộ, gắn với trách nhiệm người đứng đầu

Quy định số 225-QĐ/TW tiếp tục khẳng định nguyên tắc xử lý kỷ luật phải công minh, chính xác, kịp thời; căn cứ vào nội dung, mức độ, tính chất, tác hại, ảnh hưởng, nguyên nhân, hoàn cảnh cụ thể và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định hình thức kỷ luật phù hợp. Đáng chú ý, khi kỷ luật một tổ chức đảng phải xem xét trách nhiệm và xử lý kỷ luật đối với những đảng viên vi phạm, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức đảng.

Một yêu cầu quan trọng là bảo đảm sự đồng bộ giữa kỷ luật Đảng với xử lý về hành chính, đoàn thể và pháp luật. Sau khi xem xét, xử lý hoặc chỉ đạo xử lý kỷ luật Đảng, chậm nhất 5 ngày, tổ chức đảng có trách nhiệm chỉ đạo hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý kỷ luật hành chính, đoàn thể hoặc xử lý hình sự để bảo đảm thống nhất, kịp thời. Ngược lại, khi cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội đình chỉ công tác hoặc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, hội viên, đoàn viên là đảng viên, chậm nhất 5 ngày phải thông báo cho tổ chức đảng quản lý đảng viên để xem xét, xử lý kỷ luật Đảng.

Đặc biệt, Quy định xác định rõ không chờ kết luận hoặc bản án của cơ quan tiến hành tố tụng mới xem xét kỷ luật Đảng. Trường hợp đảng viên bị khởi tố, truy tố hoặc cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, thanh tra, kiểm toán cung cấp nội dung liên quan đến dấu hiệu vi phạm pháp luật, tổ chức đảng có thẩm quyền phải chủ động, kịp thời kiểm tra, kết luận và xem xét, xử lý kỷ luật nếu có vi phạm đến mức phải xử lý. Sau khi có bản án, quyết định của Tòa án hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền, nếu cần thiết thì xem xét lại việc kỷ luật Đảng.

Quy định cũng làm rõ cơ chế xử lý đối với trường hợp đảng viên bị truy nã, tạm giam hoặc bị Tòa án tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên; theo đó, tổ chức đảng có thẩm quyền có thể quyết định khai trừ hoặc xóa tên trong danh sách đảng viên mà không phải thực hiện đầy đủ các bước của quy trình thi hành kỷ luật.

Một điểm đáng chú ý khác là thời hạn và thủ tục đình chỉ sinh hoạt, hoạt động được quy định cụ thể hơn. Thời hạn đình chỉ sinh hoạt Đảng đối với đảng viên, kể cả cấp ủy viên, và đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng là 90 ngày kể từ ngày ký quyết định, được gia hạn một lần nhưng không quá 30 ngày. Trường hợp bị khởi tố, truy tố, thời hạn đình chỉ được tính theo thời hạn của pháp luật, kể cả thời gian gia hạn. Cơ quan pháp luật có thẩm quyền khi quyết định khởi tố, tạm giam, truy tố, xét xử đối với đảng viên, cấp ủy viên phải thông báo bằng văn bản cho cấp ủy hoặc Ủy ban kiểm tra quản lý đảng viên trong thời hạn chậm nhất 3 ngày.

Quy định đồng thời tăng tính minh bạch và chặt chẽ trong việc công bố quyết định kỷ luật. Quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật phải được công bố chậm nhất 10 ngày kể từ ngày ký; tổ chức đảng cấp dưới được ủy quyền phải công bố trong thời hạn chậm nhất 5 ngày kể từ khi nhận được ủy quyền. Sau một năm kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực, nếu tổ chức đảng, đảng viên không khiếu nại, không tái phạm hoặc không có vi phạm mới đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định kỷ luật đương nhiên chấm dứt hiệu lực, trừ trường hợp khai trừ đảng viên hoặc giải tán tổ chức đảng.

Đối với quyền khiếu nại kỷ luật, Quy định xác định thời hạn khiếu nại là 30 ngày kể từ ngày nhận quyết định; thời hạn giải quyết chậm nhất 60 ngày đối với cấp tỉnh, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương trở xuống, 90 ngày đối với cấp Trung ương; trường hợp cần thiết được gia hạn một lần nhưng không quá 30 ngày.

Với những quy định mới, Quy định số 225-QĐ/TW tạo khuôn khổ chặt chẽ hơn cho toàn bộ quy trình kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, từ phát hiện dấu hiệu vi phạm, thu thập và xác minh thông tin, kiểm soát tài sản, thu nhập đến xử lý kỷ luật, giải quyết khiếu nại và đình chỉ sinh hoạt Đảng. Việc tăng cường ứng dụng dữ liệu số, kết nối cơ sở dữ liệu, nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan và bảo đảm xử lý đồng bộ giữa kỷ luật Đảng với pháp luật Nhà nước góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, đáp ứng yêu cầu xây dựng Đảng trong tình hình mới.

Quy định số 225-QĐ/TW có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14/10/2026, thay thế Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026. Đối với các cuộc kiểm tra, giám sát đã thông qua dự thảo báo cáo thẩm tra, xác minh trước thời điểm Quy định mới có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo Quy định số 21-QĐ/TW.

Phó Viện trưởng VKSND tối cao Nguyễn Duy Giảng vinh dự được tặng Huy hiệu 35 năm tuổi Đảng

(Kiemsat.vn) - Ngày 13/10/2026, tại Hà Nội, Đảng bộ VKSND tối cao tổ chức Lễ trao Huy hiệu 35 năm tuổi Đảng tặng đồng chí Nguyễn Duy Giảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Viện trưởng VKSND tối cao. Đồng chí Nguyễn Huy Tiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Viện trưởng VKSND tối cao dự và trao Quyết định tại buổi Lễ.
(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang