Chiến lược đặt mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, giữ vai trò quyết định trong việc nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh quốc gia; đồng thời đóng góp trực tiếp vào phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.
Cùng với đó, Chiến lược hướng tới phát triển tiềm lực và trình độ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của Việt Nam đạt mức tiên tiến trong một số lĩnh vực trọng điểm; hình thành năng lực làm chủ và phát triển một số công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, tạo nền tảng cho tự chủ công nghệ quốc gia. Đồng thời, xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia hiện đại, hội nhập quốc tế; phát triển mạnh hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và đội ngũ doanh nghiệp công nghệ có năng lực cạnh tranh khu vực, từng bước tham gia thị trường toàn cầu.
![]() |
|
Ảnh minh họa. |
Theo mục tiêu đến năm 2030, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%; tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao đạt tối thiểu 50% tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) tiếp tục được cải thiện, thuộc nhóm 40 quốc gia hàng đầu thế giới.
Tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển (R&D) phấn đấu đạt tối thiểu 2% GDP, trong đó nguồn ngoài ngân sách nhà nước chiếm trên 60%; bố trí ít nhất 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và tăng dần theo yêu cầu phát triển.
Về nguồn nhân lực và tiềm lực khoa học, công nghệ, mục tiêu đặt ra là số nhân lực nghiên cứu và phát triển đạt 12 người trên một vạn dân; có tối thiểu 50 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và quốc tế; số lượng công bố khoa học quốc tế tăng bình quân 10%/năm; số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng bình quân 16-18%/năm, tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8–10%.
Chiến lược cũng xác định phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia thuộc nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới; đưa Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo; nâng cao trình độ, năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trung bình của thế giới; tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40%; tỷ lệ kết quả nghiên cứu từ viện, trường được thương mại hóa đạt tối thiểu 30%.
Đồng thời, phấn đấu hình thành từ 5 đến 10 doanh nghiệp công nghệ quy mô khu vực trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược; làm chủ và sản xuất trong nước một số sản phẩm công nghệ chiến lược có tác động lớn đến kinh tế và an ninh quốc gia.
Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, Chiến lược đề ra các nhiệm vụ trọng tâm, gồm: Triển khai các chương trình phát triển công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược; phát triển các lĩnh vực khoa học và công nghệ nền tảng; xây dựng hạ tầng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hạ tầng dữ liệu quốc gia; phát triển tổ chức khoa học và công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ và thị trường khoa học, công nghệ; đồng thời đẩy mạnh hội nhập quốc tế và ngoại giao khoa học, công nghệ.
Bên cạnh đó, Chiến lược đề ra các giải pháp mang tính đột phá về hoàn thiện thể chế, cơ chế quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cơ chế tài chính, huy động nguồn lực; tăng cường giám sát, đánh giá và điều chỉnh trong quá trình tổ chức thực hiện.
Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 569/QĐ-TTg ngày 11/5/2022 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030.
Bài viết chưa có bình luận nào.