Việc ban hành Chiến lược dữ liệu quốc gia đánh dấu bước phát triển mới trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, thể hiện quyết tâm xây dựng hạ tầng dữ liệu thống nhất, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên dữ liệu để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước.
Theo Chiến lược, Việt Nam sẽ phát triển đồng bộ hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, kho dữ liệu, nền tảng dữ liệu và hạ tầng tính toán dùng chung theo kiến trúc thống nhất. Dữ liệu được xác định là tài nguyên chiến lược, tư liệu sản xuất quan trọng và động lực tăng trưởng mới, đồng thời là nền tảng để đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán hiệu năng cao và các công nghệ số tiên tiến trong phân tích, dự báo, hoạch định chính sách và cung cấp dịch vụ công thông minh.
Chiến lược cũng hướng tới phát triển kinh tế dữ liệu, công nghiệp dữ liệu và thị trường dữ liệu; từng bước làm chủ các công nghệ lõi về dữ liệu và AI; bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và chủ quyền dữ liệu quốc gia, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hệ sinh thái dữ liệu quốc gia đồng bộ, hiện đại
Để hiện thực hóa mục tiêu tổng quát, Chiến lược xác định 7 nhóm mục tiêu cụ thể đến năm 2030, tập trung vào hoàn thiện thể chế, phát triển dữ liệu, hạ tầng số và nguồn nhân lực.
Một trong những mục tiêu quan trọng là hoàn thiện 100% hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cốt lõi, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật về dữ liệu, bảo đảm hài hòa giữa việc tạo lập, chia sẻ, khai thác dữ liệu với yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đồng thời, toàn bộ các bộ, ngành, địa phương phải ban hành chiến lược dữ liệu, khung kiến trúc và khung quản trị dữ liệu; công bố và kết nối từ điển dữ liệu theo chuẩn quốc gia.
Trong lĩnh vực hạ tầng dữ liệu, Chiến lược đặt mục tiêu hoàn thành việc số hóa, chuẩn hóa và làm sạch 100% cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành trọng yếu theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống"; đồng bộ dữ liệu về Trung tâm dữ liệu quốc gia và khai thác thống nhất thông qua nền tảng điều phối dữ liệu quốc gia (NDOP). Đồng thời, đưa vào vận hành Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia để thực hiện triệt để nguyên tắc "dữ liệu thay giấy tờ", góp phần cắt giảm thành phần hồ sơ, đơn giản hóa thủ tục hành chính và nâng cao năng lực phân tích, dự báo phục vụ hoạch định chính sách.
Chiến lược cũng yêu cầu hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành ba Trung tâm dữ liệu quốc gia theo lộ trình; phát triển hạ tầng điện toán hiệu năng cao và hạ tầng AI phục vụ các cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu và các tổ chức đủ điều kiện khai thác tài nguyên tính toán dùng chung. Toàn bộ hệ thống dữ liệu cốt lõi phải được thiết lập cơ chế dự phòng nhiều lớp, bảo đảm duy trì hoạt động liên tục và khôi phục các dịch vụ thiết yếu trong thời gian không quá bốn giờ khi xảy ra sự cố hoặc thảm họa.
Đối với phát triển AI, Chiến lược đặt mục tiêu chuẩn hóa toàn bộ dữ liệu mở trên Cổng dữ liệu mở quốc gia, hoàn thành làm sạch, gắn nhãn và ẩn danh các bộ dữ liệu phục vụ AI; đồng thời hỗ trợ phát triển ít nhất 150 sản phẩm, dịch vụ dữ liệu và mô hình AI "Make in Vietnam", góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
![]() |
|
Đưa dữ liệu trở thành động lực mới cho tăng trưởng và quản trị quốc gia. (Ảnh minh họa) |
Hình thành thị trường dữ liệu và hướng tới nhóm 30 quốc gia dẫn đầu thế giới
Một điểm nhấn của Chiến lược là định hướng phát triển kinh tế dữ liệu và thị trường dữ liệu như một ngành kinh tế mới.
Theo đó, 100% bộ, ngành và địa phương sẽ cung cấp dữ liệu mở bảo đảm chất lượng trên Cổng dữ liệu mở quốc gia; đẩy mạnh số hóa di sản văn hóa, giáo dục, y tế và bảo hiểm xã hội; đưa vào vận hành tối thiểu 5 sàn dữ liệu, từng bước hình thành thị trường dữ liệu minh bạch, an toàn và có kiểm soát. Chiến lược cũng đặt mục tiêu phát triển ít nhất 1.000 doanh nghiệp công nghệ dữ liệu và tối thiểu 30 tổ chức trung gian dữ liệu tham gia thu thập, chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu theo quy định của pháp luật.
Song song với đó là mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, gồm đào tạo tối thiểu 50.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức có năng lực quản trị và phân tích dữ liệu; khoảng 300.000 lượt người lao động được đào tạo kỹ năng dữ liệu và AI; hình thành đội ngũ 5.000 chuyên gia dữ liệu nòng cốt và có trên 50 cơ sở giáo dục đại học đào tạo các ngành liên quan đến khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và an ninh dữ liệu.
Chiến lược đặc biệt coi trọng bảo đảm an ninh dữ liệu và chủ quyền dữ liệu quốc gia. Theo đó, toàn bộ hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu trọng yếu phải được giám sát, cảnh báo an ninh mạng, thiết lập cơ chế kiểm soát toàn bộ vòng đời dữ liệu, cho phép truy xuất lịch sử khai thác và cung cấp công cụ để người dân trực tiếp giám sát việc sử dụng dữ liệu của mình.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu 100% hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và quản trị của các cơ quan Đảng, Nhà nước được hỗ trợ bởi dữ liệu, tối thiểu 90% quyết định quan trọng được xây dựng trên cơ sở phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; 100% dịch vụ công đủ điều kiện được cung cấp toàn trình trên môi trường số, trong đó ít nhất 90% dịch vụ công thiết yếu được cá nhân hóa dựa trên dữ liệu, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp đạt từ 99% trở lên. Việt Nam cũng hướng tới thuộc nhóm 30 quốc gia dẫn đầu thế giới về năng lực quản trị, khai thác dữ liệu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trở thành trung tâm quan trọng trong khu vực về lưu trữ, xử lý, kết nối và trung chuyển dữ liệu xuyên biên giới.
Để thực hiện các mục tiêu trên, Chiến lược đề ra 8 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm, gồm: Hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng và nền tảng dữ liệu quốc gia; phát triển dữ liệu; phát triển kinh tế dữ liệu và thị trường dữ liệu; phát triển nguồn nhân lực; bảo đảm an ninh, chủ quyền dữ liệu; ứng dụng Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và tăng cường hợp tác quốc tế về dữ liệu. Qua đó, tạo nền tảng để dữ liệu thực sự trở thành nguồn lực mới, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và phục vụ hiệu quả quá trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.
Bài viết chưa có bình luận nào.