Một số vướng mắc về đối thoại trong tố tụng hành chính

28/01/2026 10:40

(kiemsat.vn)
Hiện nay, Luật tố tụng hành chính năm 2015 chưa quy định về nguyên tắc, trình tự tiến hành đối thoại trong giải quyết sơ thẩm rút gọn vụ án hành chính, chưa quy định về cách xử lý đối thoại trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hành chính thông thường; quy định chưa rõ ràng về kết quả xử lý đối thoại… Đây là những vướng mắc gây khó khăn cho các Tòa án trong thực tiễn xét xử.

Đối thoại là thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hành chính (VAHC), giúp các đương sự có cơ hội trao đổi, bàn bạc, thảo luận, thống nhất về việc giải quyết vụ án, là cơ sở để vụ án có thể được chấm dứt ở giai đoạn sớm, tiết kiệm thời gian, chi phí cho các bên liên quan và Nhà nước. Ngoài ra, đối thoại còn là tiền đề để Tòa án hiểu rõ hơn về vụ án, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các đương sự, từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động xét xử các VAHC. Hiện nay, đối thoại đã mang lại những kết quả khả quan, tạo hiệu ứng khá tốt cho công tác giải quyết các VAHC. Tuy nhiên, từ thực tiễn cho thấy, một số quy định của pháp luật tố tụng hành chính (TTHC) về đối thoại còn hạn chế, vướng mắc. Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu về đối thoại trong TTHC và đề xuất giải pháp hoàn thiện là cần thiết.

1. Về đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp sơ thẩm

Nếu trong giải quyết VAHC theo thủ tục thông thường, đối thoại được Tòa án tiến hành trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thì trong giải quyết VAHC theo thủ tục rút gọn sơ thẩm, đối thoại được tiến hành tại giai đoạn xét xử sơ thẩm[1]. Đây là sự khác biệt cơ bản nhưng hợp lý do tính chất của việc xét xử rút gọn. Khoản 3 Điều 249 Luật TTHC năm 2015 quy định: Thủ tục đối thoại trong giải quyết sơ thẩm rút gọn sẽ do Thẩm phán tiến hành ở thời điểm ngay sau khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, trừ trường hợp không tiến hành đối thoại được theo Điều 135 Luật TTHC năm 2015. Trường hợp đương sự thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Thẩm phán lập biên bản đối thoại thành và ra quyết định công nhận đối thoại thành theo Điều 140 Luật TTHC năm 2015. Như vậy, thông qua phương pháp dẫn chiếu, pháp luật quy định về chủ thể tiến hành, các trường hợp không đối thoại được, cách xử lý kết quả đối thoại trong giải quyết sơ thẩm rút gọn tương tự như thủ tục đối thoại trong giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường.

Tuy nhiên, ở góc độ so sánh cụ thể hơn, có thể thấy, việc tiến hành đối thoại trong giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn chưa thực sự toàn diện. Bởi lẽ, Luật TTHC năm 2015 không quy định về thành phần tham gia đối thoại, nguyên tắc, trình tự tiến hành đối thoại trong giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn. Điều này dẫn đến thực tiễn vận dụng, áp dụng pháp luật chưa thống nhất, chẳng hạn có trường hợp Thẩm phán tiến hành đối thoại theo cách hiểu riêng, lược giản thủ tục đối thoại, không bảo đảm sự chặt chẽ trong quy trình đối thoại, làm ảnh hưởng đến tính hiệu quả của thủ tục này.

Trên tinh thần hoàn thiện quy định của pháp luật TTHC về đối thoại cũng như tạo hành lang pháp lý cụ thể để các Tòa án, Viện kiểm sát vận dụng pháp luật thống nhất, tác giả cho rằng cần bổ sung vào khoản 3 Điều 249 Luật TTHC năm 2015 quy định về nguyên tắc, thành phần, thủ tục tiến hành đối thoại theo hướng như sau: “Sau khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán tiến hành đối thoại, trừ trường hợp không tiến hành đối thoại được theo quy định tại Điều 135 của Luật này. Về nguyên tắc đối thoại, thành phần tham gia đối thoại, trình tự, thủ tục đối thoại được thực hiện theo quy định tại Điều 134, Điều 137 và khoản 4 Điều 138 của Luật này… thì Thẩm phán tiến hành xét xử”.

2. Về đối thoại trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hành chính theo thủ tục thông thường

Theo Điều 134 Luật TTHC năm 2015, Tòa án không có trách nhiệm tiến hành đối thoại trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm VAHC. Tuy nhiên, vì đối thoại là cơ hội để các đương sự trao đổi, bàn bạc và đi đến thống nhất về việc giải quyết vụ án nên Điều 187, Điều 238 Luật TTHC năm 2015 đã trao cho đương sự có quyền đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm để các đương sự tự đối thoại với nhau. Có thể thấy, đây là quy định tiến bộ thể hiện sự tôn trọng quyền định đoạt và ý chí mong muốn đối thoại của các đương sự trong vụ án. Thực tiễn, hoạt động đối thoại trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm VAHC còn gặp nhiều vướng mắc do Luật TTHC năm 2015 không điều chỉnh các nội dung sau đây:

Thứ nhất, trường hợp các đương sự đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa sơ thẩm để tự đối thoại mà qua đối thoại các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án (người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện, người bị kiện đồng ý sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính bị kiện, chấm dứt hành vi hành chính bị kiện) thì Hội đồng xét xử sơ thẩm sẽ xử lý như thế nào? Vì Luật TTHC năm 2015 và các văn bản có liên quan chưa hướng dẫn cụ thể nên thực tiễn tồn tại hai quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, Hội đồng xét xử cần vận dụng khoản 3 Điều 140 Luật TTHC năm 2015. Theo đó, Hội đồng xét xử sẽ lập biên bản về việc cam kết của các đương sự và yêu cầu người khởi kiện gửi văn bản rút đơn khởi kiện, người bị kiện gửi cho Tòa án quyết định hành chính mới hoặc thông báo về việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản. Nếu một trong các bên không thực hiện cam kết thì Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử sơ thẩm VAHC. Ngược lại, nếu nhận được cam kết của các đương sự thì Hội đồng xét xử sẽ thông báo cho các bên đương sự khác biết; họ không có ý kiến phản đối thì Hội đồng xét xử sẽ ra quyết định công nhận đối thoại thành và đình chỉ giải quyết vụ án.

Ví dụ: Ngày 16/8/2023, Tòa án nhân dân thành phố C đã ban hành quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ giải quyết VAHC giữa người khởi kiện là các ông bà T, S, P, H, V, M, L và người bị kiện là Ủy ban nhân dân quận N thành phố C. Tại phiên tòa sơ thẩm, do các đương sự đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để các bên đối thoại với nhau nên Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa. Sau khi đối thoại, người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện, người bị kiện đồng ý giao các quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường cho người khởi kiện. Trong thời hạn 07 ngày, người bị kiện đã giao các quyết định hành chính, người khởi kiện đã nộp văn bản rút đơn khởi kiện nên Tòa án nhân dân thành phố C đã ban hành quyết định công nhận đối thoại thành và đình chỉ giải quyết vụ án. Quyết định này do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ký ban hành[2]. Trong vụ án này, Tòa án đã vận dụng khoản 3 Điều 140 Luật TTHC năm 2015 để xử lý và khi có căn cứ pháp luật thì Tòa án đã ra quyết định công nhận đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án.

Quan điểm thứ hai cho rằng, Hội đồng xét xử sẽ đình chỉ giải quyết vụ án. Theo đó, sau khi tạm ngừng phiên tòa, các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện, người bị kiện thu hồi quyết định hành chính bị kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị kiện thì Hội đồng xét xử sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo khoản 2 Điều 165 Luật TTHC năm 2015 có viện dẫn đến Điều 143 Luật TTHC năm 2015.

Tác giả nhận thấy cả hai quan điểm trên đều có những lý lẽ riêng. Tuy nhiên, ở góc độ lý luận và thực tiễn, tác giả đồng tình với quan điểm thứ nhất. Bởi lẽ, quan điểm này phù hợp với tính chất của việc đối thoại cũng như tính chất của việc xét xử sơ thẩm VAHC. Tòa án tạm ngừng phiên tòa sơ thẩm để tạo điều kiện cho các bên đối thoại với nhau và kết quả của việc tự đối thoại có thể là thành hoặc không thành. Nếu đối thoại thành và đáp ứng các yêu cầu của khoản 3 Điều 140 Luật TTHC năm 2015 thì việc Tòa án ra quyết định công nhận đối thoại, đình chỉ giải quyết vụ án là hoàn toàn hợp lý. Cách xử lý này không chỉ có ý nghĩa trong việc tôn trọng quyền thỏa thuận, ý chí tự định đoạt của các đương sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, mà còn có ý nghĩa giải quyết dứt điểm, nhanh chóng, tránh kéo dài vụ án (theo khoản 3 Điều 140 Luật TTHC năm 2015, quyết định công nhận đối thoại thành và đình chỉ giải quyết vụ án có hiệu lực thi hành ngay và không được kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm). Do vậy, Luật TTHC năm 2015 cần bổ sung quy định: Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHC thông thường, Hội đồng xét xử sơ thẩm được quyền ban hành quyết định công nhận đối thoại thành và đình chỉ giải quyết vụ án tương tự như trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm.

Thứ hai, trường hợp đương sự đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tạm ngừng phiên tòa để tự đối thoại với nhau (Điều 238 Luật TTHC năm 2015). Qua đối thoại, các bên đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện, người bị kiện đồng ý thu hồi quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị kiện, các đương sự khác không có ý kiến phản đối, thì Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xử lý như thế nào? Hiện tại, Luật TTHC năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định về vấn đề này, nên còn tồn tại các cách hiểu khác nhau. Cách hiểu thứ nhất: Tòa án cấp phúc thẩm sẽ áp dụng khoản 3 Điều 140 Luật TTHC năm 2015 để ra quyết định công nhận đối thoại thành và đình chỉ giải quyết vụ án. Cách hiểu thứ hai: Tòa án cấp phúc thẩm sẽ áp dụng Điều 234, 235 Luật TTHC năm 2015 để ban hành quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.

Theo tác giả, phúc thẩm VAHC là cấp xét xử thứ hai, xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị[3]. Mục đích của Tòa án cấp phúc thẩm là đánh giá tính hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, từ đó ban hành phán quyết nhằm quyết định chính thức về “số phận” của bản án, quyết định sơ thẩm[4]. Tòa án cấp phúc thẩm có thể giữ nguyên hoặc hủy bỏ hoặc sửa bản án, quyết định đó tùy theo tính đúng, sai của chúng. Khi các đương sự tự đối thoại với nhau, thống nhất về việc giải quyết vụ án mà Tòa án cấp phúc thẩm ban hành quyết định công nhận đối thoại thành và đình chỉ giải quyết vụ án là không phù hợp với mục đích, tính chất của giai đoạn phúc thẩm. Do vậy, cách hiểu thứ nhất là thiếu cơ sở khoa học.

Về cách hiểu thứ hai, cách xử lý của Tòa án cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 234, Điều 235 Luật TTHC năm 2015 là hoàn toàn phù hợp với tính chất, phạm vi, thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm. Do vậy, để bảo đảm việc áp dụng thống nhất, Luật TTHC năm 2015 hoặc các văn bản giải đáp vướng mắc của Tòa án nhân dân tối cao cần bổ sung quy định để giải quyết các trường hợp nêu trên theo hướng: Tòa án cấp phúc thẩm cần áp dụng Điều 234, Điều 235 Luật TTHC năm 2015 để ban hành quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.

3. Về xử lý kết quả đối thoại theo Điều 140 Luật tố tụng hành chính năm 2015

Quy định về cách thức xử lý kết quả đối thoại là nội dung không thể thiếu của Luật TTHC năm 2015. Nhìn chung, các quy định là tương đối rõ ràng, là cơ sở để các Tòa án áp dụng có hiệu quả. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy, một số quy định của Luật TTHC năm 2015 về xử lý kết quả đối thoại còn bất cập, cụ thể như sau:

Thứ nhất, quy định về việc thực hiện cam kết của người khởi kiện, người bị kiện là cơ sở để ban hành quyết định công nhận đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án chưa rõ ràng

Theo khoản 3 Điều 140 Luật TTHC năm 2015:... Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản, người bị kiện phải gửi cho Tòa án quyết định hành chính mới hoặc thông báo về việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện (và) người khởi kiện phải gửi cho Tòa án văn bản rút đơn khởi kiện (đoạn 1).

Trường hợp nhận được quyết định hành chính mới (hoặc) văn bản rút đơn khởi kiện thì Tòa án phải thông báo cho các đương sự khác biết… (đoạn 2).

Có thể thấy, giữa đoạn 1 và đoạn 2 không có sự tương thích, kỹ thuật lập pháp trong việc sử dụng liên từ “và” ở đoạn 1 cùng với liên từ (hoặc) ở đoạn 2 là chưa thống nhất với nhau. Bất cập này dẫn đến hai cách xử lý khác nhau trong thực tiễn[5]:

Cách xử lý thứ nhất: Tòa án sẽ ban hành quyết định công nhận đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án khi nhận được cả quyết định hành chính mới của người bị kiện và cả văn bản rút đơn khởi kiện của người khởi kiện, các đương sự khác không có ý kiến phản đối trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án.

Ví dụ: Thông qua biên bản đối thoại ngày 26/10/2021 và biên bản đối thoại thành ngày 12/11/2021 về việc các đương sự thống nhất với nhau việc giải quyết toàn bộ VAHC thụ lý số 07/2021/TLST-HC của Tòa án nhân dân tỉnh V. Bà H là người khởi kiện đã tự nguyện thực hiện xong biện pháp khắc phục hậu quả theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 6991/QĐ-XPVPHC. Người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L tỉnh V có ý kiến nếu bà H rút đơn khởi kiện thì người bị kiện sẽ xem xét thu hồi Quyết định số 6991/QĐ-XPVPHC. Trên cơ sở đó, ngày 12/11/2021, người khởi kiện là bà H đã nộp cho Tòa án văn bản rút đơn khởi kiện. Đã hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc người bị kiện đã thực hiện nội dung đối thoại thành và người khởi kiện đã nộp cho Tòa án văn bản rút đơn khởi kiện, không có đương sự nào có ý kiến phản đối, nên Tòa án tỉnh V đã ban hành quyết định công nhận đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án[6]. Trong vụ án này, Tòa án đã ban hành quyết định công nhận đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án khi cả người khởi kiện và người bị kiện cùng thực hiện cam kết.

Cách xử lý thứ hai: Tòa án ban hành quyết định công nhận đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án khi chỉ mới nhận được văn bản rút đơn khởi kiện của người khởi kiện, các đương sự khác không có ý kiến phản đối trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án.

Ví dụ: Sau khi đối thoại, người bị kiện là Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Đ thống nhất cam kết giải quyết cho hộ ông T (người khởi kiện): 01 lô đất đường 7,5m diện hộ chính; 01 lô đất đường 7,5m x hệ số 1,3; 02 lô đường 5,5m; hộ ông V (con ông T) 01 lô đất đường 5,5m tại khu dân cư X… Người khởi kiện là ông T cam kết rút đơn khởi kiện. Khi Tòa án yêu cầu các bên thực hiện cam kết, người khởi kiện đã nộp cho Tòa án văn bản rút đơn khởi kiện, đã hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc người khởi kiện đã nộp cho Tòa án văn bản rút đơn khởi kiện, không có đương sự nào có ý kiến phản đối. Ngày 31/5/2018, Tòa án nhân dân thành phố Đ đã ban hành quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án giữa người khởi kiện là ông T với người bị kiện là Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Đ[7]. Trong vụ án này, Tòa án đã ban hành quyết định công nhận đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án khi chỉ có người khởi kiện thực hiện cam kết gửi văn bản rút đơn khởi kiện cho Tòa án, mà không cần đến việc thực hiện cam kết của người bị kiện.

Như vậy, các vụ án trên cho thấy, quy định chưa cụ thể tại khoản 3 Điều 140 Luật TTHC năm 2015 về xử lý kết quả đối thoại đã gây khó khăn, khi áp dụng pháp luật.

Theo tác giả, Luật TTHC năm 2015 nên sửa đổi theo cách xử lý thứ nhất. Bởi lẽ, cách xử lý này thể hiện sự hợp lý, bảo đảm toàn diện ý chí của các bên, hạn chế khả năng một bên đương sự không thực hiện cam kết ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự còn lại, nâng cao hiệu quả, chất lượng của thủ tục đối thoại. Cụ thể, tác giả đề xuất: Liên từ “hoặc” trong đoạn 2 của khoản 3 Điều 140 Luật TTHC năm 2015 cần thay bằng liên từ “và” để chuẩn xác, đáp ứng sự tương thích với đoạn 1 khoản 3 Điều 140 Luật TTHC năm 2015, cụ thể:… Trường hợp nhận được quyết định hành chính mới (và) văn bản rút đơn khởi kiện thì Tòa án phải thông báo cho các đương sự khác biết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, nếu các đương sự không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án và gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.

Thứ hai, quy định về xử lý kết quả đối thoại không đề cập đến cam kết của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa hợp lý.

Theo Điều 20 Luật TTHC năm 2015, Tòa án có trách nhiệm tiến hành đối thoại và tạo điều kiện để các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án. Đương sự trong VAHC bao gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo đó, đối thoại là thủ tục để cả người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thể hiện quan điểm, ý kiến thống nhất của mình về việc chấm dứt tranh chấp hành chính giữa họ. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 140 Luật TTHC năm 2015 chỉ đề cập đến cam kết và việc thực hiện cam kết của người khởi kiện, người bị kiện, mà không đề cập đến cam kết và việc thực hiện cam kết của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Đây là hạn chế cần được xem xét lại của Luật TTHC năm 2015. Bởi lẽ, tuy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải là đương sự bắt buộc phải có trong mọi VAHC, nhưng nếu trong vụ án có họ thì họ cũng có quyền đề xuất các ý kiến, quan điểm về phần vụ án liên quan đến quyền và lợi ích của họ[8]. Trường hợp Tòa án ban hành quyết định công nhận đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án mà không dựa trên cam kết cũng như việc thực hiện cam kết của người liên quan có yêu cầu độc lập là thiếu toàn diện, không phản ánh toàn bộ ý chí của tất cả các đương sự trong vụ án, chất lượng của đối thoại không bảo đảm chính xác.

Theo tác giả, khoản 3 Điều 140 Luật TTHC năm 2015 cần được sửa lại như sau: “Trường hợp qua đối thoại mà người bị kiện cam kết sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện cam kết rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cam kết rút yêu cầu độc lập (nếu có) thì Tòa án sẽ tiến hành lập biên bản về việc cam kết của đương sự. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản, người bị kiện phải gửi cho Tòa án quyết định hành chính mới hoặc thông báo về việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện phải gửi cho Tòa án văn bản rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải gửi văn bản rút yêu cầu độc lập (nếu có)…

Trường hợp nhận được quyết định hành chính mới và văn bản rút đơn khởi kiện, văn bản rút yêu cầu độc lập (nếu có) thì Tòa án phải thông báo cho các đương sự khác biết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, nếu các đương sự không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án và gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp”.

Lê Thị Mơ

-----------------------------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật TTHC Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, 2017.

2. PGS.TS. Nguyễn Cảnh Hợp, Sách chuyên khảo Bình luận và giải thích Luật TTHC, Nxb. Hồng Đức, 2017.

3. Nguyễn Hoàng Yến, Xử lý kết quả đối thoại trong tố tụng hành chính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2018.

4. Phan Minh Nhựt, Những bất cập trong các quy định của Luật tố tụng hành chính, Tạp chí Kiểm sát số 16/2013, tr.28.

5. Quyết định số 08/2018/QĐST-HC về công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thành phố Đ ngày 31/5/2018.

6. Quyết định số 08/2021/QĐST-HC về công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh V ngày 23/11/2021.

7. Quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án số 01/2023/QĐST-HC của Tòa án nhân dân thành phố C ngày 16/8/2023.

8. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 02/2024/QĐST-HC của Tòa án nhân dân quận T, thành phố H ngày 28/8/2024.


[1]. Điu 134, khon 3 Điu 249 Lut TTHC năm 2015.

[2]. Quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án số 01/2023/QĐST-HC của Tòa án nhân dân thành phố C, ban hành ngày 16/8/2023.

[3]. Điu 203 Lut TTHC năm 2015.

[4]. Phan Minh Nhựt, Những bất cập trong các quy định của Luật tố tụng hành chính, Tạp chí Kiểm sát số 16/2013, tr.28.

[5]. Nguyễn Hoàng Yến, “Xử lý kết quả đối thoại trong TTHC”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2018, tr.12.

[6]. Quyết định số 08/2021/QĐST-HC về công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án ngày 23/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh V.

[7]. Quyết định số 08/2018/QĐST-HC về công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đ.

[8]. Nguyễn Hoàng Yến (2018), tlđd, tr.15.

Kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông đường bộ

(Kiemsat.vn) - Hiện trường tai nạn giao thông đường bộ là nơi xảy ra va chạm, sự cố giữa các phương tiện, người tham gia giao thông, để lại nhiều dấu vết phức tạp như vết phanh, vết trượt, mảng vỡ, vết máu, vết cọ xát… Từ thực tiễn công tác kiểm sát, bài viết chia sẻ một số kinh nghiệm trong kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông đường bộ.
(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang