Bảo vệ người tố giác tội phạm và người tham gia tố tụng khác

05/04/2017 10:10

(kiemsat.vn)
Lần đầu tiên, theo BLTTHS năm 2015, người tố giác tội phạm được quy định là người tham gia tố tụng và có quyền yêu cầu được bảo vệ. Người được bảo vệ còn bao gồm người làm chứng, bị hại, người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại.

Ảnh minh họa Bảo vệ người tố giác tội phạm: Internet 

Những quy định của pháp luật

Từ Điều 484 đến Điều 490 Chương XXXIV BLTTHS năm 2015 quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại và người tham gia tố tụng khác.

Khoản 1 Điều 484 quy định chủ thể được bảo vệ trong tố tụng hình sự tránh nguy cơ bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe danh dự, nhân phẩm, tài sản, lợi ích hợp pháp khác bao gồm: Người tố giác tội phạm; người làm chứng; bị hại; người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại.

Lần đầu tiên, người tố giác tội phạm được quy định là người tham gia tố tụng và họ có quyền yêu cầu được bảo vệ (Điều 56). Bên cạnh người tố giác tội phạm, người được bảo vệ còn bao gồm người làm chứng, bị hại, người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại. Như vậy, BLTTHS năm 2015 đã mở rộng diện chủ thể được bảo vệ và quy định có tính hệ thống hơn trước đây, không chỉ bảo vệ người làm chứng và người thân thích của người làm chứng.

Những người được bảo vệ theo quy định của BLTTHS năm 2015 không chỉ có quyền yêu cầu, đề nghị được bảo vệ như BLTTHS năm 2003 mà còn được ghi nhận thêm các quyền tố tụng khác được quy định ở khoản 2 Điều 484: Đề nghị được bảo vệ; được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ; được biết về việc áp dụng biện pháp bảo vệ; đề nghị thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ; được bồi thường thiệt hại, khôi phục danh dự, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp trong thời gian bảo vệ. Người được bảo vệ có quyền đề nghị, yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ bằng văn bản hoặc trình bày trực tiếp hoặc thông qua phương tiện thông tin liên lạc nhưng sau đó vẫn phải thể hiện yêu cầu, đề nghị bằng văn bản (1). Các quy định này tạo điều kiện cho người được bảo vệ có thể đưa ra yêu cầu, đề nghị đến cơ quan có thẩm quyền nhanh chóng, khẩn trương đồng thời lựa chọn được biện pháp bảo vệ phù hợp với mình nhất.

Cùng với quyền yêu cầu, đề nghị được bảo vệ thì khoản 3 Điều 487 BLTTHS năm 2015 quy định: Chấp hành nghiêm chỉnh các yêu cầu của cơ quan bảo vệ liên quan đến việc bảo vệ; giữ bí mật thông tin bảo vệ; thông báo kịp thời đến cơ quan có trách nhiệm bảo vệ về những vấn đề nghi vấn trong thời gian được bảo vệ. Quy định về các nghĩa vụ này bảo đảm sự phối hợp giữa người được bảo vệ và cơ quan có trách nhiệm bảo vệ nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ tốt nhất.

Người có quyền yêu cầu, đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ

Chủ thể được yêu cầu bảo vệ là những người có tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm có thể bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại do việc cung cấp chứng cứ, tài liệu, thông tin liên quan đến tội phạm như: Người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại, người chứng kiến, người phiên dịch, người dịch thuật.

Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân các cấp nếu xét thấy cần áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ. Trong trường hợp vụ việc, vụ án hình sự do Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ương thụ lý, giải quyết, điều tra nếu xét thấy cần áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ thì báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương. Viện trưởng có văn bản đề nghị với Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra hình sự, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ (2).

Thẩm quyền, thủ tục quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ

Mặc dù, người được bảo vệ có thể đưa ra yêu cầu, đề nghị tại bất cứ thời điểm nào của quá trình giải quyết vụ án hình sự khi thấy cần thiết, nhưng thẩm quyền ra quyết định áp dụng các biện pháp bảo vệ được tập trung cho Cơ quan điều tra của Công an nhân dân và Quân đội nhân dân tùy thuộc vụ án được thụ lý, giải quyết tại cơ quan điều tra nào. Thẩm quyền cụ thể thuộc về Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra (3).

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tập trung thẩm quyền cho cơ quan điều tra vì đây là cơ quan có đủ khả năng chuyên môn, nghiệp vụ để kiểm tra căn cứ, đánh giá tính xác thực của đề nghị, yêu cầu bảo vệ. Ngoài ra, đây cũng chính là cơ quan sẽ quyết định biện pháp bảo vệ cũng như phương án bảo vệ cụ thể hoặc thay đổi các biện pháp bảo vệ trong quá trình bảo vệ.

Về thủ tục, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. Quyết định gồm các nội dung chính: Số, ngày, tháng, năm; địa điểm ra quyết định; chức vụ của người ra quyết định; căn cứ ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được bảo vệ; biện pháp bảo vệ và thời gian bắt đầu thực hiện biện pháp bảo vệ.

Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ được gửi cho người yêu cầu bảo vệ, người được bảo vệ, Viện kiểm sát, Tòa án đã đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ và cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan đến việc bảo vệ (4).

Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ phải lập hồ sơ bảo vệ. Hồ sơ bảo vệ gồm: Văn bản đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ; biên bản về việc đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ; kết quả xác minh về hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ; tài liệu về hậu quả thiệt hại đã xảy ra (nếu có) và việc xử lý của cơ quan có thẩm quyền; văn bản yêu cầu, đề nghị thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ; quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ; tài liệu phản ánh diễn biến quá trình áp dụng biện pháp bảo vệ; văn bản yêu cầu, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp bảo vệ; báo cáo kết quả thực hiện biện pháp bảo vệ; quyết định chấm dứt biện pháp bảo vệ; các văn bản, tài liệu khác có liên quan đến việc bảo vệ.

Các biện pháp bảo vệ và việc chấm dứt các biện pháp bảo vệ

Lần đầu tiên các biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ được chính thức ghi nhận cụ thể trong BLTTHS. Điều 486 quy định gồm các biện pháp sau: Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện khác để canh gác, bảo vệ; hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để bảo đảm an toàn cho họ; giữ bí mật và yêu cầu người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ; di chuyển, giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập; thay đổi tung tích, lý lịch, đặc điểm nhân dạng của người được bảo vệ, nếu được họ đồng ý; răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật; các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật.

Cơ quan điều tra có thẩm quyền áp dụng phải tổ chức thực hiện ngay biện pháp bảo vệ sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. Trường hợp cần thiết có thể phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân để thực hiện việc bảo vệ. Việc áp dụng, thay đổi các biện pháp bảo vệ quy định không được làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ.

Khi xét thấy căn cứ xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ không còn, Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ phải ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo vệ. Quyết định chấm dứt áp dụng các biện pháp bảo vệ phải được gửi cho người được bảo vệ, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ và cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan đến việc bảo vệ.

Mặc dù vẫn còn hạn chế trong quy định về người được bảo vệ như đã phân tích trên, nhưng quy định tại Chương XXXIV BLTTHS năm 2015 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại, người tham gia tố tụng khác đã tạo khung pháp lý cơ bản để có thể triển khai trên thực tiễn các biện pháp bảo vệ cho các đối tượng có nguy cơ bị xâm hại. Các quy định này không chỉ góp phần bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự mà còn có vai trò thúc đẩy sự tham gia tích cực, chủ động của mọi người vào quá trình phát hiện, xử lý tội phạm.

(1) Xem khoản 1, 2 Điều 487 BLTTHS năm 2015.

(2) Xem khoản 3 Điều 485 BLTTHS năm 2015.

(3) Xem khoản 1, 2 Điều 485 BLTTHS năm 2015.

(4) Xem khoản 1, 2 Điều 488 BLTTHS năm 2015.

(Trích bài viết Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại, người tham gia tố tụng khác trong tố tụng hình sự của Thạc sĩ Nguyễn Hải Ninh, Trường Đại học Luật Hà Nội, Tạp chí Kiểm sát số 11/2016).

Điều 484 BLTTHS năm 2015 vẫn chưa bao quát hết các đối tượng cần được bảo vệ như: Người chứng kiến, người phiên dịch, người dịch thuật và người thân thích của những người này. Tại điểm b khoản 3 Điều 67, điểm b khoản 2 Điều 70 BLTTHS năm 2015 đều quy định các chủ thể này có quyền yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa.
(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang