Bàn về người đồng phạm có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án hình sự

Ngày đăng : 15:52, 04/11/2026

(Kiemsat.vn) - Việc xác định đúng vai trò của từng người đồng phạm là vấn đề có ý nghĩa quyết định trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự, cá thể hóa hình phạt và bảo đảm công bằng trong xét xử các vụ án hình sự. Do đó, việc đánh giá đúng vai trò của từng người đồng phạm không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật pháp lý mà còn thể hiện chính sách hình sự nhân đạo, phân hóa trách nhiệm hình sự của Nhà nước.

Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) đã xác định rõ người đồng phạm gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục và người giúp sức, song trong nhiều quy định khác của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự lại xuất hiện thuật ngữ “người đồng phạm có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án hình sự”. Thuật ngữ này được sử dụng làm căn cứ quan trọng để áp dụng các chính sách khoan hồng như quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, miễn hình phạt, cho hưởng án treo hoặc áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên. Tuy nhiên, BLHS năm 2015 chưa đưa ra khái niệm pháp lý cũng như tiêu chí cụ thể để xác định thế nào là “người đồng phạm có vai trò thứ yếu, không đáng kể”. Điều này dẫn đến việc áp dụng không thống nhất trong thực tiễn, tiềm ẩn nguy cơ đánh giá cảm tính, thiếu nhất quán giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, thậm chí ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội. Xuất phát từ khoảng trống pháp lý nêu trên, bài viết tập trung phân tích các quy định hiện hành, làm rõ nội hàm của khái niệm “người đồng phạm có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án hình sự”, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

1. Quy định của pháp luật hình sự về người đồng phạm có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án hình sự

Tại khoản 2, 3 Điều 54 BLHS năm 2015 quy định: …“2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”.

Cũng tại Điều 59 BLHS năm 2015 quy định: “Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 của Bộ luật này mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự”.

Điều 37 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024, sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định: “Người chưa thành niên phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự thì có thể được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng: 1. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 38 của Luật này; 2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý, phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội ít nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 38 của Luật này; 3. Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án”.

Đồng thời, tại các điều 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định “người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án” chỉ có thể bị áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng là “khiển trách”, “xin lỗi bị hại”, “bồi thường thiệt hại” và không bị áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng đó là “giáo dục tại xã, phường, thị trấn”, “quản thúc tại gia đình” và “giáo dục tại trường giáo dưỡng”.

 Tại Điều 2 Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo quy định: “Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây: … 2.  Người bị xử phạt tù có nhân thân là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc: a) Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

Theo Điều 3 của Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC quy định những trường hợp không cho hưởng án treo: …4. Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ một trong các trường hợp sau đây: … b) Người phạm tội bị xét xử và kết án về 02 tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể. 5.  Người phạm tội 02 lần trở lên, trừ một trong các trường hợp sau: …c) Các lần phạm tội, người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể…”.

 Bên cạnh đó, mục 9 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của BLHS năm 2015 quy định như sau: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 là trường hợp phạm tội khi có đủ 02 điều kiện sau đây: a) Phạm tội lần đầu là trường hợp từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào hoặc trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự; trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; thuộc trường hợp được coi là không có án tích; trước đó đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích; b) Phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm hoặc trường hợp người phạm tội có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án đồng phạm về tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng”.

Như vậy, từ các quy định trên có thể thấy, tuy không được quy định rõ khái niệm trong BLHS năm 2015 nhưng “người phạm tội có vai trò không đáng kể trong vụ án đồng phạm” lại được đề cập rất nhiều trong các quy định của Luật hình sự và có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, việc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, việc xử lý vụ án có đồng phạm là người chưa thành niên phạm tội.

Người phạm tội có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án đồng phạm trước hết phải là người thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm theo quy định của BLHS và có sự thống nhất ý chí với những người đồng phạm khác trong việc thực hiện tội phạm. Việc xác định “vai trò thứ yếu, không đáng kể” không nhằm phủ nhận tư cách đồng phạm mà nhằm đánh giá mức độ đóng góp thực tế của người đó đối với việc hình thành, thực hiện và gây ra hậu quả của tội phạm.

Thực tiễn giải quyết án hình sự cho thấy, có những trường hợp người đồng phạm có hành vi tham gia rất hạn chế, mang tính phụ thuộc, không giữ vai trò quyết định và nếu không có sự tham gia của người này thì tội phạm về cơ bản vẫn có thể được thực hiện với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội không thay đổi đáng kể.

Để tránh việc áp dụng tùy nghi, theo tác giả, việc xác định người phạm tội có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án đồng phạm cần dựa trên hệ thống tiêu chí định lượng và định tính sau đây:

Thứ nhất, về vị trí và loại vai trò trong đồng phạm: Người phạm tội chỉ có thể được xem xét là có vai trò thứ yếu, không đáng kể nếu họ là người giúp sức hoặc người thực hành có mức độ tham gia hạn chế; không áp dụng đối với người tổ chức, người xúi giục hoặc người giữ vai trò chi phối việc thực hiện tội phạm.

Thứ hai, về mức độ tham gia hành vi phạm tội: Hành vi tham gia mang tính đơn lẻ, giản đơn, không liên tục, không giữ vai trò then chốt trong chuỗi hành vi phạm tội; không trực tiếp quyết định việc thực hiện hay chấm dứt tội phạm.

Thứ ba, về mức độ ảnh hưởng đến hậu quả phạm tội: Hành vi của người đó không làm gia tăng đáng kể tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm; hậu quả xảy ra chủ yếu do hành vi của người đồng phạm khác gây nên.

Thứ tư, về ý chí chủ quan và mức độ nhận thức: Người phạm tội tham gia với lỗi cố ý nhưng mức độ nhận thức về toàn bộ kế hoạch phạm tội, hậu quả có thể xảy ra còn hạn chế; không phải là người đề xuất, thúc đẩy hoặc duy trì việc thực hiện tội phạm.

Thứ năm, về mức độ hưởng lợi: Người phạm tội không hưởng lợi hoặc hưởng lợi rất ít, không tương xứng với vai trò của các đồng phạm khác trong vụ án.

Khi có những yếu tố nêu trên, có thể xác định người đó là người phạm tội có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án đồng phạm. Tuy vậy, theo tác giả, vẫn cần đặt ra những trường hợp loại trừ, không được coi là có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án đồng phạm, nếu người đồng phạm đã tham gia vào một tổ chức tội phạm như băng ổ nhóm trộm cướp hoặc tham gia vào vụ án có tổ chức và được phân công nhiệm vụ cụ thể. Ví dụ: A tham gia nhóm trộm cắp xe máy và chỉ được phân công làm nhiệm vụ gửi xe vào bãi trông xe bệnh viện rồi giả vờ báo mất vé, từ đó lấy mẫu vé về để người khác đi làm giả vé và trộm cắp xe. Sau mỗi vụ, A được chia tiền ít nhất trong các đồng phạm. Ngoài ra, cũng không thể coi là người có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong đồng phạm nếu người đó đã thực hiện tội phạm nhiều lần hoặc đã từng bị kết án về cùng hành vi thực hiện tội phạm. 

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 17 BLHS năm 2015 quy định về người đồng phạm có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án hình sự. Quy định này không nhằm mở rộng các loại đồng phạm mà nhằm làm rõ một dạng vai trò trong nhóm người đồng phạm, trên cơ sở mức độ tham gia hành vi, mức độ ảnh hưởng đến hậu quả phạm tội, ý chí chủ quan và mức độ hưởng lợi. Việc bổ sung này sẽ tạo cơ sở pháp lý trực tiếp cho việc áp dụng thống nhất các quy định về miễn hình phạt, giảm nhẹ hình phạt và chính sách khoan hồng khác.

Thứ hai, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần hướng dẫn áp dụng thống nhất thuật ngữ “người đồng phạm có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án hình sự”, trong đó, cần cụ thể hóa hệ thống tiêu chí định tính và định lượng, làm rõ các trường hợp được coi là có vai trò thứ yếu, không đáng kể và các trường hợp loại trừ; đồng thời, hướng dẫn trình tự, phương pháp đánh giá vai trò này trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.

Thứ ba, cần chú trọng việc lựa chọn, phát triển án lệ liên quan đến các vụ án có người đồng phạm giữ vai trò thứ yếu, không đáng kể, đặc biệt trong các nhóm tội phạm thường phát sinh đồng phạm như tội xâm phạm sở hữu, tội đánh bạc, tội ma túy. Án lệ sẽ góp phần định hướng nhận thức và cách áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, hạn chế sự tùy nghi và bảo đảm nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự.

Nguyễn Văn Đông

Theo Tạp chí Kiểm sát in số 05/2026