Xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp tạm đình chỉ điều tra bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ bị can

Ngày đăng : 11:15, 30/10/2026

(Kiemsat.vn) - Việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong các trường hợp tạm đình chỉ điều tra bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ bị can theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn còn vướng mắc, có nhiều cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất, ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết vụ án và tiềm ẩn nguy cơ bỏ lọt tội phạm đặt ra yêu cầu hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này.

1. Khó khăn, vướng mắc trong việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp tạm đình chỉ điều tra bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ bị can

Một là, theo khoản 1, khoản 3 Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) quy định: “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ”.

Như vậy, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn mà cơ quan tiến hành tố tụng xác định trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội và theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), khi có đủ căn cứ xác định người thực hiện hành vi phạm tội thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ ra quyết định khởi tố bị can. Quyết định khởi tố bị can chính là bước xác định trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội, căn cứ vào đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ để truy tố, xét xử người phạm tội, làm rõ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Do vậy, sau khi có quyết định khởi tố bị can, quá trình điều tra, truy tố, xét xử sẽ không tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (bao gồm cả trường hợp vụ án bị hủy đi hủy lại nhiều lần để xét xử lại hoặc để điều tra lại hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhiều lần...).

Theo Thông tư liên tịch số 01/2020/TTLT-VKSNDTC -TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP quy định phối hợp thực hiện một số điều của BLTTHS về quản lý, giải quyết các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ, vụ án bị tạm đình chỉ thì thời gian tạm đình chỉ vẫn được tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, tức là trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, nếu vụ án tạm đình chỉ điều tra bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ bị can và các hoạt động tố tụng bị tạm dừng (trừ trường hợp tạm đình chỉ do không xác định được bị can đang ở đâu và đã có quyết định truy nã) thì thời gian tiến hành các hoạt động nhằm khắc phục lý do tạm đình chỉ như: Bắt buộc chữa bệnh; giám định tư pháp; tương trợ tư pháp... sẽ được tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và nếu hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự mà không chứng minh được bị can thực hiện tội phạm thì Cơ quan điều tra sẽ ra quyết định đình chỉ điều tra.

Đối với trường hợp sau khi khởi tố bị can, người phạm tội thuộc một trong hai trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 27 BLHS năm 2015: (1) Người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ được tính lại kể từ ngày người đó thực hiện hành vi phạm tội mới; (2) Người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

Theo quan điểm của tác giả, Điều 27 BLHS năm 2015 chỉ quy định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là từ khi tội phạm được thực hiện, mà chưa xác định rõ thời điểm kết thúc của việc tính thời hiệu này. Theo khoản 1 Điều 27 BLHS năm 2015, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với người phạm tội, theo đó được hiểu là khoảng thời gian tính từ khi tội phạm được thực hiện đến khi quyết định khởi tố bị can, tức là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi có quyết định khởi tố bị can, khi có quyết định khởi tố bị can thì vụ án đó không được tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, Thông tư liên tịch số 01/2020/TTLT-VKSNDTC -TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP quy định phối hợp thực hiện một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự về quản lý, giải quyết các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ, vụ án bị tạm đình chỉ và Công văn số 5487 hướng dẫn nghiệp vụ của Vụ 7, Vụ 14 Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn việc tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những vụ án đã có quyết định khởi tố bị can mà bị tạm đình chỉ là chưa phù hợp với quy định của BLHS.

Hai là, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, vụ án bị tạm đình chỉ điều tra bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ bị can vẫn được tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và khi hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự mà không chứng minh được bị can thực hiện tội phạm thì Cơ quan điều tra sẽ ra quyết định đình chỉ điều tra.

Vấn đề đặt ra là khi vụ án bị tạm đình chỉ trong trường hợp đã có quyết định khởi tố bị can và vụ án bị tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án và các hoạt động tố tụng bị tạm dừng (trừ trường hợp tạm đình chỉ do không xác định được bị can đang ở đâu và đã có quyết định truy nã) thì thời gian tiến hành các hoạt động nhằm khắc phục lý do tạm đình chỉ như: Bắt buộc chữa bệnh; giám định tư pháp; tương trợ tư pháp... sẽ phải được tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời điểm để xác định thời hiệu từ khi nào. Hiện nay, pháp luật chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể đối với vấn đề này dẫn đến việc áp dụng trong thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng còn thiếu thống nhất.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự phải được xác định từ khi tội phạm thực hiện, bởi khoản 3 Điều 27 BLHS năm 2015 chỉ quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính lại từ đầu trong trường hợp người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù mà không quy định đối với trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ, mặt khác, khi có vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật mà chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể cần phải áp dụng nguyên tắc của Bộ luật hình sự là có lợi cho bị can, bị cáo, không làm xấu đi tình trạng của bị can, bị cáo.

Quan điểm thứ hai cho rằng, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự cần được xác định lại kể từ thời điểm có quyết định tạm đình chỉ điều tra; nếu vẫn tính từ thời điểm tội phạm được thực hiện sẽ dễ tạo ra kẽ hở pháp luật, làm phát sinh nguy cơ bỏ lọt tội phạm, người phạm tội. Ví dụ: A thực hiện hành vi trộm cắp tài sản từ ngày 01/01/2020, đến ngày 20/11/2024, CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với A về Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, ngày 20/01/2025 bị can A có kết luận giám định bị bệnh tâm thần nên CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can theo điểm b khoản 1 Điều 229 BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025), nếu như trong trường hợp này, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tình từ khi tội phạm thực hiện như quan điểm thứ nhất thì thời điểm bị can bị tạm đình chỉ cũng là thời điểm đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự phải được xác định lại từ khi có quyết định tạm đình chỉ.

Quan điểm thứ ba cho rằng, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được xác định kể từ thời điểm tội phạm được thực hiện; trong trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ, khoảng thời gian tạm đình chỉ vẫn được tính vào thời hiệu, nhưng phải trừ đi thời gian đã tiến hành hoạt động điều tra trước đó. Đối với ví dụ nêu trên, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ thời điểm tội phạm xảy ra nhưng phải trừ khoảng thời gian điều tra từ ngày 20/11/2024 đến ngày 20/01/2025 (02 tháng). Như vậy, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự của vụ án là 05 năm sau khi đã trừ đi 02 tháng điều tra; vậy phải đến ngày 01/03/2025 thì mới hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Khi đó, cơ quan tiến hành tố tụng phải ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án và đình chỉ điều tra bị can đối với A.

Theo quan điểm của tác giả, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với vụ án bị tạm đình chỉ điều tra bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ bị can, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự cần được xác định lại kể từ thời điểm có quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ bị can, bởi lẽ, khi vụ án được khởi tố bị can thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trước đó đã chấm dứt, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự phải được xác định lại từ đầu khi vụ án bị tạm đình chỉ, nếu vẫn xác định từ khi tội phạm thực hiện, nhiều vụ án vừa tạm đình chỉ thì đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, có những vụ án hết thời hiệu trước khi vụ án bị tạm đình chỉ, việc xác định thời hiệu như vậy sẽ tạo lỗ hỏng lớn về pháp luật để người phạm tội lợi dụng để trốn trách việc truy cứu trách nhiệm hình sự. Mặt khác, trong thực tiễn giải quyết án, nhiều trường hợp việc tạm đình chỉ do các điều kiện khách quan như chưa có kết luận giám định, kết luận định giá, cần tương trợ tư pháp. Do đó, nếu tính thời hiệu từ thời điểm thực hiện tội phạm thì sẽ không phản ánh đúng bản chất của quá trình tố tụng và làm suy giảm hiệu lực của hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Vì vậy, việc xác định lại thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự kể từ thời điểm có quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ bị can là cần thiết và có cơ sở cả về lý luận lẫn thực tiễn. Cách tiếp cận này không chỉ khắc phục được khoảng trống pháp lý hiện nay mà còn góp phần bảo đảm nguyên tắc mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, tránh tình trạng bỏ lọt tội phạm do những hạn chế trong quy định pháp luật.

2. Một số kiến nghị, đề xuất

Một là, cần có văn bản hướng dẫn thay thế Thông tư liên tịch số 01/2020/TTLT-VKSNDTC -TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP quy định phối hợp thực hiện một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự về quản lý, giải quyết các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ theo hướng: Không tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với vụ án đã có quyết định khởi tố bị can, như vậy, đối với vụ án bị tạm đình chỉ trong trường hợp bị can bị bệnh tâm thần, bệnh hiểm nghèo; tạm đình chỉ trong trường hợp trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu tương trợ tư pháp chưa có kết quả mà hết thời hạn điều tra; trường hợp vì lý do bất khả kháng, do thiên tai, dịch bệnh mà hết thời hạn điều tra (vụ án đã có quyết định khởi tố bị can) thì không được tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu giải quyết theo hướng này sẽ không còn bất cập trong cách tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (phân tích khó khăn ở trên).

Hai là, nếu tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với vụ án bị tạm đình chỉ điều tra bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ bị can thì cần sửa đổi khoản 3 Điều 27 BLHS năm 2015 như sau: “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

Nếu vụ án bị tạm đình chỉ điều tra bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ bị can thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính lại từ thời điểm có quyết định tạm đình chỉ”.

Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Hồng

Phân hiệu Trường Đại học Kiểm sát tại thành phố Hồ Chí Minh