Một số vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Ngày đăng : 14:15, 29/10/2026
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (BLTTDS) dành một chương riêng (Chương VIII, từ Điều 111 đến Điều 142) quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT), xác định rõ mục đích, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng và trách nhiệm pháp lý phát sinh từ việc áp dụng các biện pháp này. Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP ngày 24/9/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể về điều kiện áp dụng, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, nghĩa vụ bảo đảm và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do yêu cầu áp dụng không đúng. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy còn “khoảng trống pháp lý” trong việc bảo toàn tài sản trong thời gian Tòa án xem xét đơn yêu cầu và còn một số khó khăn trong công tác kiểm sát việc áp dụng BPKCTT.
1. Một số khó khăn, vướng mắc
Thứ nhất, pháp luật chưa quy định thẩm quyền của Tòa án về quyết định biện pháp xử lý tạm thời trong thời hạn xem xét đơn để bảo toàn hiện trạng tài sản, dẫn đến nguy cơ tẩu tán:
Theo Điều 133 BLTTDS, trong thời hạn 03 ngày làm việc (hoặc 48 giờ đối với trường hợp yêu cầu áp dụng BPKCTT nộp cùng với đơn khởi kiện), kể từ khi nhận được đơn yêu cầu, Tòa án phải xem xét, giải quyết yêu cầu áp dụng BPKCTT. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định thẩm quyền của Tòa án trong khoảng thời gian này để giữ nguyên hiện trạng tài sản đang có nguy cơ bị tẩu tán, nhất là trong các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất hoặc tài sản có giá trị lớn.
Quyền sử dụng đất có thể được chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp hoặc đăng ký biến động chỉ trong một ngày làm việc. Thực tế, không ít vụ án chỉ vài giờ sau khi nguyên đơn nộp đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT, bị đơn đã ký hợp đồng chuyển nhượng và hoàn tất thủ tục sang tên; khi Tòa án ban hành quyết định áp dụng BPKCTT thì tài sản đã được chỉnh lý biến động sang người khác.
Một số Tòa án đã gửi công văn đề nghị cơ quan đăng ký đất đai tạm dừng việc đăng ký biến động trong khi chờ Tòa án giải quyết yêu cầu. Tuy nhiên, do biện pháp này chưa được BLTTDS và các văn bản hướng dẫn quy định nên cơ quan đăng ký đất đai có thể từ chối thực hiện. Hệ quả là quyền lợi của người yêu cầu bị ảnh hưởng, còn Tòa án rơi vào thế bị động.
Mặt khác, theo điểm g khoản 2 Điều 19 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ quy định về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai, cơ quan tiếp nhận hồ sơ, cơ quan giải quyết thủ tục không tiếp nhận hồ sơ hoặc dừng giải quyết thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất khi “nhận được văn bản yêu cầu dừng thực hiện thủ tục hành chính về đất đai để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan có thẩm quyền”. Quy định này chưa được hiểu thống nhất: văn bản của Tòa án đề nghị tạm dừng thủ tục trong thời gian xem xét yêu cầu áp dụng BPKCTT có thuộc trường hợp này không, hay bắt buộc phải là quyết định áp dụng BPKCTT.
Thứ hai, tiêu chí “cần thiết, khẩn cấp” còn định tính:
Việc đánh giá nguy cơ gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc nguy cơ cản trở việc thi hành án phụ thuộc chủ yếu vào nhận định chủ quan của Thẩm phán, nhất là trong tranh chấp quyền sử dụng đất khi bên có nghĩa vụ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người thứ ba nhằm trốn tránh nghĩa vụ. Việc không áp dụng hoặc áp dụng chậm biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản có thể làm phát sinh các vụ kiện tiếp theo, điển hình là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do giả tạo. Do thiếu tiêu chí pháp lý rõ ràng để nhận diện nguy cơ tẩu tán tài sản, các tình huống tương tự có thể được giải quyết khác nhau: có trường hợp áp dụng, có trường hợp không áp dụng BPKCTT.
Thứ ba, trách nhiệm chứng minh là của người yêu cầu nhưng gánh nặng chứng minh “ngầm” lại là của người tiến hành tố tụng:
Về nguyên tắc, nghĩa vụ chứng minh thuộc về người yêu cầu áp dụng BPKCTT. Tuy nhiên, trong thực tiễn, đa số người yêu cầu chỉ nộp đơn mà không kèm theo tài liệu chứng minh quyền, lợi ích đang bị xâm phạm; đặc biệt, khi yêu cầu cấm chuyển dịch quyền về tài sản, họ gần như không có điều kiện tiếp cận thông tin về việc bên bị yêu cầu có đang chuyển dịch tài sản hay không. Để có căn cứ ra quyết định, Tòa án buộc phải xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai về tình trạng pháp lý, biến động của quyền sử dụng đất; nếu có dấu hiệu chuyển dịch, Tòa án còn phải đánh giá giá trị tài sản để đối chiếu với giá trị nghĩa vụ tranh chấp, xác định phạm vi áp dụng và biện pháp bảo đảm tương ứng. Như vậy, hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ mang tính quyết định trên thực tế do Thẩm phán thực hiện, vừa kéo dài thời gian xem xét, làm giảm tính khẩn cấp của biện pháp, vừa gia tăng rủi ro pháp lý cho người tiến hành tố tụng. Trường hợp quyết định áp dụng BPKCTT không có căn cứ hoặc không đúng, Thẩm phán có thể phải chịu trách nhiệm hoàn trả theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tâm lý e ngại trách nhiệm này khiến việc áp dụng BPKCTT thiếu kịp thời, chủ động, làm giảm hiệu quả bảo toàn tài sản và bảo đảm thi hành án.
Thứ tư, hạn chế về tiếp cận hồ sơ, tài liệu khi kiểm sát việc áp dụng BPKCTT:
Theo Điều 139 BLTTDS, Tòa án phải gửi ngay quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT cho Viện kiểm sát cùng cấp. Thực tế, Viện kiểm sát chủ yếu chỉ nhận được quyết định mà không kèm theo đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ và kết quả xác minh làm căn cứ ra quyết định. Vì vậy, hoạt động kiểm sát chủ yếu dừng lại ở việc kiểm tra hình thức, thẩm quyền, trình tự và thời hạn ban hành quyết định, chưa đánh giá được thực chất tính có căn cứ, hợp pháp và cần thiết của việc áp dụng hoặc không áp dụng BPKCTT, làm hạn chế vai trò của Viện kiểm sát trong việc phát hiện, kiến nghị khắc phục vi phạm pháp luật.
2. Kinh nghiệm của pháp luật Trung Quốc về biện pháp bảo toàn tài sản
Luật Tố tụng dân sự Trung Quốc không sử dụng khái niệm BPKCTT mà quy định biện pháp bảo toàn tài sản (property preservation) tại Chương IX - Bảo toàn và thi hành trước (từ Điều 103 đến Điều 111, bản sửa đổi, bổ sung năm 2023), gồm các quy định về mục đích, phạm vi, các biện pháp bảo toàn tài sản, trình tự, thủ tục và trách nhiệm của người yêu cầu. So với pháp luật Việt Nam, chế định này có một số điểm khác biệt sau:
- Về cách tiếp cận lập pháp và phạm vi điều chỉnh:
Theo Điều 105 Luật Tố tụng dân sự Trung Quốc, biện pháp bảo toàn tài sản được áp dụng trong phạm vi yêu cầu khởi kiện hoặc đối với tài sản có liên quan đến vụ việc, chủ yếu nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại hoặc làm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp, bảo đảm cho bản án được thi hành. Pháp luật Việt Nam quy định phạm vi rộng hơn, gồm cả bảo toàn tài sản, bảo toàn chứng cứ và buộc thực hiện hoặc không thực hiện một số hành vi nhất định nhằm giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự.
- Về thời điểm áp dụng biện pháp:
Luật Tố tụng dân sự Trung Quốc cho phép áp dụng biện pháp bảo toàn tài sản ngay cả trước khi khởi kiện trong trường hợp khẩn cấp (Điều 104), coi đây là công cụ bảo vệ quyền lợi mang tính phòng ngừa. Tuy nhiên, người yêu cầu buộc phải thực hiện biện pháp bảo đảm và phải khởi kiện trong vòng 30 ngày kể từ ngày Tòa án áp dụng biện pháp bảo toàn tài sản, nếu không biện pháp sẽ bị hủy bỏ. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam chỉ cho phép yêu cầu áp dụng BPKCTT đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện hoặc trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Quy định của Trung Quốc nhằm khắc phục khoảng trống pháp lý trong giai đoạn “chờ khởi kiện”.
- Về các biện pháp bảo toàn tài sản và thi hành trước:
Theo Điều 106 Luật Tố tụng dân sự Trung Quốc, biện pháp bảo toàn tài sản gồm: Niêm phong, kê biên, phong tỏa hoặc các biện pháp khác theo quy định của pháp luật. Luật này còn quy định biện pháp thi hành trước (Điều 109, Điều 110) đối với các vụ việc về cấp dưỡng, trợ cấp, chi phí khám chữa bệnh, tiền công lao động và các trường hợp khẩn cấp khác, với điều kiện: Quan hệ quyền, nghĩa vụ giữa các bên rõ ràng; việc không cho thi hành trước sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh của người yêu cầu; người bị yêu cầu có khả năng thực hiện nghĩa vụ. Pháp luật Việt Nam cũng có các biện pháp tương tự như: Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm, chi phí cứu chữa, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Điểm khác biệt là pháp luật Việt Nam quy định các biện pháp này chung trong BPKCTT với trình tự, thủ tục chung, còn pháp luật Trung Quốc quy định rõ hơn về điều kiện áp dụng và bắt buộc phải có đơn yêu cầu. Nhờ đó, rủi ro trách nhiệm được phân bổ cho người yêu cầu, Tòa án có cơ sở pháp lý rõ ràng để áp dụng, tránh tâm lý né tránh rủi ro.
3. Một số kiến nghị
Thứ nhất, cần quy định thẩm quyền của Tòa án ban hành thông báo tạm thời về việc bảo toàn hiện trạng tài sản ngay sau khi tiếp nhận đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT, khi có căn cứ rõ ràng cho thấy tài sản có nguy cơ bị chuyển dịch nhanh chóng, nhất là quyền sử dụng đất. Thông báo này có giá trị pháp lý cho đến khi Tòa án ra quyết định áp dụng hoặc thông báo không áp dụng BPKCTT. Để ngăn ngừa việc lạm dụng, cơ chế này cần kèm theo điều kiện chặt chẽ: Người yêu cầu phải nộp chứng cứ về nguy cơ tẩu tán tài sản kèm theo đơn (nếu không có thì từ chối áp dụng) và thực hiện biện pháp bảo đảm tương đương.
Thứ hai, cụ thể hóa tiêu chí đánh giá điều kiện “cần thiết, khẩn cấp” gắn với mục đích bảo đảm thi hành án, thông qua các dấu hiệu khách quan như: Tài sản đang tranh chấp là nguồn bảo đảm duy nhất cho việc thực hiện nghĩa vụ; quyền sử dụng đất có khả năng dễ dàng chuyển dịch trên thực tế; bên bị yêu cầu đã hoặc đang thực hiện các giao dịch làm biến động tình trạng pháp lý của tài sản; việc không áp dụng biện pháp có nguy cơ dẫn đến phát sinh tranh chấp mới với người thứ ba ngay tình. Điều này góp phần thống nhất trong áp dụng pháp luật, hạn chế tình trạng khởi kiện nhiều lần.
Thứ ba, cần quy định tiêu chí chứng minh tối thiểu mà người yêu cầu áp dụng BPKCTT phải cung cấp kèm theo đơn, gồm: (i) Mối liên hệ pháp lý giữa yêu cầu khởi kiện và tài sản yêu cầu bảo toàn; (ii) Dấu hiệu cụ thể cho thấy tài sản có nguy cơ bị tẩu tán, chuyển dịch hoặc thay đổi hiện trạng; (iii) Khả năng xảy ra thiệt hại khó khắc phục nếu không áp dụng BPKCTT. Trường hợp không đáp ứng các tiêu chí này, Tòa án có quyền không chấp nhận yêu cầu mà không phải tiến hành xác minh bổ sung.
Thứ tư, tăng cường phối hợp giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong việc áp dụng BPKCTT, theo hướng quy định Tòa án phải gửi kèm theo quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT các tài liệu làm căn cứ ra quyết định (đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo và các thông báo, quyết định liên quan); đồng thời, đẩy mạnh chia sẻ hồ sơ theo phương thức điện tử giữa hai cơ quan trong bối cảnh chuyển đổi số.
Thứ năm, nghiên cứu luật hóa việc áp dụng BPKCTT trước thời điểm khởi kiện, nhằm khắc phục khoảng trống từ khi người có quyền lợi nộp đơn đến khi Tòa án thụ lý vụ án. Khoảng thời gian này có thể kéo dài nhiều ngày, nhất là khi phải sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, tạo điều kiện cho các giao dịch chuyển nhượng, thế chấp hoặc thay đổi hiện trạng tài sản được thực hiện hợp pháp nhưng vô hiệu hóa khả năng bảo vệ quyền lợi của người khởi kiện. Cơ chế bảo toàn tài sản ở giai đoạn tiền tố tụng cho phép can thiệp kịp thời ngay trong giai đoạn có rủi ro tẩu tán tài sản cao nhất.