Thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm, điều tra vụ án hình sự của công an cấp xã và một số vấn đề đặt ra đối với VKSND
Ngày đăng : 13:59, 21/10/2026
1. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến mở rộng thẩm quyền tố tụng của Công an cấp xã
Thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy các cơ quan có thẩm quyền tố tụng và các cơ quan có liên quan, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) đã sửa đổi, bổ sung 106 điều luật. Theo đó, bộ máy Cơ quan điều tra từ mô hình 03 cấp chuyển thành 02 cấp (cấp Bộ và cấp tỉnh); không tổ chức nhà tạm giữ, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện… Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao từ mô hình 04 cấp thành 03 cấp (tối cao, cấp tỉnh và khu vực). Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã và có nhiệm vụ, quyền hạn như của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, bắt bị can để tạm giam… Hồ sơ vụ án hình sự sẽ được số hóa và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng sử dụng chữ ký số để ký các văn bản tố tụng; việc thông báo văn bản tố tụng được thực hiện trên phương tiện thông tin đại chúng, qua nền tảng số, phần mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, cổng thông tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng…
- Về thẩm quyền thụ lý giải quyết nguồn tin về tội phạm và điều tra vụ án hình sự của Công an cấp xã:
Thể chế hóa các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sắp xếp, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị[1] để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung các điều 4, 36, 37, 110, 113, 150, 163, 225, 487, 485 theo hướng, không tổ chức Công an cấp huyện, mở rộng thẩm quyền của lực lượng Công an xã trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và điều tra vụ án hình sự, cụ thể:
Khoản 4 Điều 36 quy định: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được ủy quyền cho Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình đối với các quyền quy định tại khoản 1a Điều 37. Cụ thể: “Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này, các điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này, trừ quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt”.
Theo đó, khi được phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn xã do mình quản lý thì ngoài các quyền hạn với tư cách là Điều tra viên thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh, Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã còn có những quyền hạn như Thủ trưởng Cơ quan điều tra.
Để hướng dẫn chi tiết các quy định mới của BLTTHS năm 2015 về thẩm quyền của Công an xã, ngày 27/6/2025, liên ngành tư pháp trung ương đã ban hành Thông tư liên tịch số 04/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự (TTLT số 04/2025). Theo đó, Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 6 như sau:
(1) Trưởng Công an xã (hoặc Phó Trưởng Công an xã tại các nơi Trưởng Công an xã là Điều tra viên trung cấp, cao cấp) được Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh ủy quyền cho một phần hoặc toàn bộ nhiệm vụ quyền hạn của Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố, gồm: Trưng cầu giám định chất ma túy; trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản trong các vụ tai nạn giao thông, cố ý gây thương tích, trộm cắp tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; giữ người trong trường hợp khẩn cấp; bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; tạm giữ người; khám nghiệm hiện trường; khám xét, khám xét trong trường hợp khẩn cấp.
Về thực chất, đây chính là các quyền mà BLTTHS năm 2015 trao cho Thủ trưởng Cơ quan điều tra khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, BLTTHS năm 2015 xây dựng cơ chế trao cho Trưởng hoặc Phó Trưởng Công an xã được thực hiện các quyền năng này. Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an cấp tỉnh chịu trách nhiệm về các hành vi và quyết định của Điều tra viên (Trưởng hoặc Phó Trưởng công an xã) trong phạm vi ủy quyền.
(2) Trưởng Công an xã (hoặc Phó Trưởng Công an xã tại các nơi Trưởng Công an xã chưa đủ tiêu chuẩn Điều tra viên trung cấp, cao cấp) được Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an cấp tỉnh phân công trực tiếp cho thụ lý, giải quyết vụ việc, vụ án.
(3) Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an cấp tỉnh ủy quyền cho Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an cấp tỉnh là trưởng các phòng PC01, PC02, PC03, PC04 để những người này ra quyết định phân công Trưởng Công an xã hoặc Phó Trưởng Công an xã thụ lý, giải quyết vụ việc, vụ án (khoản 2).
Sau khi có quyết định phân công thì Trưởng, Phó Trưởng công an xã có các quyền hạn như Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh đối với vụ việc, vụ án ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn xã do mình quản lý.
Quyết định ủy quyền tiến hành các hoạt động giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm về tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng là thường xuyên, dài hạn, còn quyết định phân công thụ lý, giải quyết sẽ theo từng vụ việc, vụ án cụ thể.
Khi thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền, phân công tiến hành tố tụng thì Trưởng Công an cấp xã sử dụng con dấu của cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an cấp tỉnh và ký “thừa ủy quyền” Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh.
- Về thẩm quyền, trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết các vụ việc, vụ án do Công an cấp xã được mở rộng thẩm quyền:
Để tổ chức triển khai chi tiết Điều 20 BLTTHS năm 2015, trong điều kiện không tổ chức lực lượng Công an và Viện kiểm sát cấp huyện; triển khai bố trí Điều tra viên tại Công an xã và mở rộng thẩm quyền cho lực lượng Công an cấp xã, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao đã ban hành Thông tư số 02/2025/TT-VKSTC ngày 30/6/2025 quy định chi tiết về thẩm quyền của VKSND mỗi cấp trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Theo đó, Viện kiểm sát khu vực có thẩm quyền và trách nhiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra các vụ án hình sự như sau:
(1) Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại, xử lý nguồn tin về tội phạm của Công an cấp xã, Đồn Công an; việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã theo Điều 37 BLTTHS và hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an cấp tỉnh bố trí tại Công an cấp xã theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 TTLT số 04/2025.
(2) Phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an cấp tỉnh hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm tra, xác minh sơ bộ tố giác, tin báo về tội phạm của Công an cấp xã, hướng dẫn việc thực hiện thẩm quyền của Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng hoặc Phó Trưởng Công an xã (Điều 159 BLTTHS, Điều 7 TTLT số 04/2025).
2. Một số vấn đề đặt ra đối với hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố các vụ án hình sự do Công an cấp xã thụ lý giải quyết
Thứ nhất, VKSND tối cao cần phối hợp với Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, quy định chi tiết về phối hợp giữa Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã với Kiểm sát viên khi tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã theo khoản 1a Điều 37 BLTTHS năm 2015. Quy định về số hóa hồ sơ vụ án, sử dụng chữ ký số và thủ tục thông báo văn bản tố tụng trên phương tiện thông tin đại chúng, qua nền tảng số, cơ sở dữ liệu quốc gia, ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, cổng thông tin hoặc trang thông tin điện tử của các cơ quan tiến hành tố tụng theo khoản 5 Điều 131, khoản 3 Điều 132; khoản 3 Điều 141 BLTTHS năm 2015.
Thứ hai, VKSND cấp tỉnh cần phối hợp với Công an cấp tỉnh tăng cường công tác hướng dẫn nghiệp vụ, công tác kiểm tra tình hình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, án hình sự do lực lượng công an cấp xã thụ lý giải quyết, qua đó kịp thời phát hiện những thiếu sót, vi phạm để uốn nắn, chấn chỉnh rút kinh nghiệm và tháo gỡ những vướng mắc khó khăn của địa phương.
Thứ ba, về hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại nguồn tin về tội phạm của lực lượng Công an cấp xã.
Do việc tiếp nhận, phân loại nguồn tin tố giác tội phạm của Công an cấp xã xảy ra hằng ngày, số lượng lớn chủ yếu là các nguồn tin về hành vi gây thương tích, tai nạn giao thông, gây rối trật tự công cộng, bạo lực trẻ em và gia đình… khối lượng công việc của Công an cấp xã tăng nhiều. Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức bộ máy cần được tinh gọn sẽ tạo áp lực không nhỏ trong giải quyết công việc; cơ chế giám sát còn thiếu và chưa hoàn thiện; đội ngũ Điều tra viên bố trí tại xã mới, mỏng, chưa nhiều kinh nghiệm chuyên môn, phần nhiều chưa được đào tạo chuyên sâu; áp lực thời hạn xử lý nguồn tin về tội phạm đòi hỏi khẩn trương, khoảng cách giữa các địa điểm xa nhau nên việc phối hợp sẽ hạn chế. Bên cạnh đó, chưa có cơ chế hữu hiệu đảm bảo thuận lợi để Viện kiểm sát khu vực kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của các Điều tra viên là Trưởng, phó Trưởng Công an xã. Đối với tố giác, tin báo thuộc thẩm quyền thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, Trưởng Công an xã trực tiếp tổ chức, chỉ đạo, phân công Điều tra viên thụ lý, giải quyết và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát khu vực (các điều 145, 146 BLTTHS năm 2015 và Điều 7 TTLT số 01/2017 quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố). Như vậy, Viện kiểm sát khu vực không được kiểm sát việc phân loại nguồn tin tội phạm của Công an cấp xã, sẽ tiềm ẩn nguy cơ bỏ lọt tội phạm; đối với tin báo chưa xác định rõ loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (tai nạn giao thông hay giết người) thì Công an cấp xã phải phân loại làm rõ căn cứ xác định là tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng để kịp thời báo cáo Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh để làm thủ tục ra quyết định phân công giải quyết nguồn tin về tội phạm. Nếu khoảng cách về thời gian, địa điểm giữa trụ sở Cơ quan điều tra và Công an xã xa sẽ ảnh hướng đến tiến độ giải quyết. Thực tiễn cho thấy, có trường hợp đơn tố giác do cá nhân, tổ chức gửi đến, tài liệu ban đầu khó xác định chỉ là quan hệ vay muợn và giao dịch dân sự hay là hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của BLTTHS năm 2015 dễ dẫn đến tình trạng tiếp nhận đơn nhưng cho rằng chỉ là giao dịch dân sự mà không thụ lý tố giác hoặc để ngoài sổ sách các nguồn tin có dấu hiệu của tội phạm.
Theo tác giả, để hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại nguồn tin tội phạm của lực lượng Công an cấp xã đạt kết quả, Viện kiểm sát khu vực cần phân công Kiểm sát viên có kinh nghiệm, năng lực, trình độ chuyên môn phụ trách địa bàn của xã để kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận, phân loại 100% nguồn tin tố giác về tội phạm do Công an cấp xã tiếp nhận, phân loại, khởi tố, điều tra và xử lý các vụ việc; kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra thu thập chứng cứ để làm rõ vụ án, tránh để xảy ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Liên ngành Công an và Viện kiểm sát cấp tỉnh cần có hướng dẫn cụ thể về quy trình tiếp nhận, phân loại nguồn tin tội phạm, cập nhật hệ thống sổ sách và nghiêm túc thực hiện công tác thông tin báo cáo cấp trên; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm sát chặt chẽ hoạt động tiếp nhận, phân loại nguồn tin tố giác tội phạm của lực lượng Công an cấp xã.
Thứ tư, về thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm của Công an cấp xã.
Để lực lượng Công an xã thụ lý xác minh nguồn tin tội phạm, điều tra các vụ án ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an cấp tỉnh ủy quyền dài hạn, phân công cho Điều tra viên cao cấp, trung cấp bố trí tại Công an cấp xã thụ lý xác minh, khởi tố, điều tra và kết thúc điều tra vụ án. Khi thực hiện quyền này, Điều tra viên là Trưởng Công an xã có quyền thực hiện một hoặc toàn bộ nhiệm vụ quyền hạn của Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra khi được ủy quyền, gồm: Trưng cầu giám định chất ma túy đối với các vụ liên quan đến các hành vi phạm tội về ma túy; trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản trong các vụ tai nạn giao thông, cố ý gây thương tích, trộm cắp tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản…; giữ người trong trường hợp khẩn cấp; bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; tạm giữ người; khám nghiệm hiện trường; khám xét trong trường hợp khẩn cấp. Theo tác giả, để thực hiện tốt hoạt động công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của lực lượng Công an cấp xã, Kiểm sát viên cần quan tâm thực hiện tốt một số nội dung sau:
(1) Kiểm sát chặt chẽ việc xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố, điều tra của Điều tra viên là Trưởng Công an xã, thận trọng trong việc phê chuẩn các quyết định tố tụng của Công an xã; kịp thời phát hiện các vi phạm vượt quá nội dung ủy quyền (như trưng cầu giám định đối với các tin báo liên quan đến hàng giả, vũ khí quân dụng, khám nghiệm tử thi…) để yêu cầu Điều tra viên khắc phục; báo cáo lãnh đạo Viện để kiến nghị khắc phục vi phạm; Phối hợp với Điều tra viên để sử dụng các thiết bị có khả năng ghi âm, ghi hình phù hợp với điều kiện thực tế; tăng cường kiểm sát trực tiếp việc hỏi cung bị can, lấy lời khai bị hại, người làm chứng, người liên quan.
(2) Việc quy định áp dụng chữ ký số trong hoạt động tố tụng chưa được triển khai, do đó tình trạng Công an xã “nợ” quyết định phân công thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm sẽ phổ biến, nhất là với các địa bàn rộng, miền núi. Điều này tiềm ẩn nhiều vi phạm thủ tục tố tụng cũng như xác định giá trị chứng minh của các tài liệu chứng cứ sau này, gây khó khăn cho Viện kiểm sát khu vực trong việc ra quyết định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát giải quyết nguồn tin về tội phạm. Do đó, Kiểm sát viên cần tích cực đôn đốc, phối hợp chặt chẽ với Điều tra viên bố trí ở cấp xã trong tiếp nhận, phân loại tố giác, tin báo về tội phạm; kịp thời báo cáo lãnh đạo Viện để kiến nghị vi phạm theo quy định của pháp luật.
(3) Điều 8 TTLT số 04/2025 quy định, đối với các tố giác, tin báo về tội phạm đang tạm đình chỉ, nếu là nguồn tin ít nghiêm trọng, nghiêm trọng thì cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an cấp tỉnh chuyển hồ sơ cho Điều tra viên là Trưởng Công an xã tiếp nhận, quản lý và giải quyết tiếp theo quy định pháp luật. Nguồn gốc của các hồ sơ tạm đình chỉ này chủ yếu là do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện quản lý từ ngày 01/3/2025 đã chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh (PC01, PC 02, PC 03, PC 04) quản lý. Do các hồ sơ từ nhiều địa bàn huyện chuyển đến, quá trình sắp xếp lại tổ chức dễ dẫn đến bỏ sót hồ sơ… Điều này gây khó khăn trong việc phối hợp liên ngành rà soát, quản lý các vụ việc tạm đình chỉ theo đúng tinh thần TTLT của liên ngành tư pháp Trung ương về quản lý các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ; không kịp xác minh phục hồi, việc giải quyết bị kéo dài hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự dẫn đến bỏ lọt tội phạm.
Vì vậy, liên ngành Công an, Viện kiểm sát cần chủ động phối hợp thống nhất ban hành hướng dẫn liên ngành trong việc theo dõi quản lý các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ, tạo cơ chế thuận lợi để Điều tra viên là Trưởng Công an xã và Phó Trưởng Công an xã phối hợp với Kiểm sát viên Viện kiểm sát khu vực đối chiếu lại danh sách, nắm chắc, đầy đủ số liệu và thực hiện nghiêm túc việc theo dõi quản lý các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ theo đúng tinh thần TTLT của liên ngành tư pháp trung ương về quản lý các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ, tránh bỏ lọt tội phạm.
Lương Hải Yến
-----------------------------------------
[1] Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025, Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/02/2025.