Quy định mới về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh
Ngày đăng : 15:00, 16/10/2026
Phân định rõ quyền và giới hạn đầu tư kinh doanh theo từng nhóm đảng viên
Quy định số 224-QĐ/TW xác định đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh phải tuân thủ quy định của Đảng và pháp luật; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm với Nhà nước, xã hội, môi trường, người lao động và người tiêu dùng; giữ gìn đạo đức kinh doanh, xây dựng văn hóa kinh doanh lành mạnh và thực hành kinh doanh có trách nhiệm.
Quy định đồng thời khẳng định quyền sở hữu, quyền tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp của đảng viên được bảo vệ theo pháp luật. Cấp ủy, tổ chức đảng không đặt thêm điều kiện, thủ tục hạn chế quyền đầu tư kinh doanh hợp pháp của đảng viên ngoài những điều kiện, thủ tục được quy định tại Quy định số 224-QĐ/TW và hướng dẫn của Ban Bí thư.
Một nguyên tắc quan trọng được đặt ra là quyền, giới hạn và việc kiểm soát xung đột lợi ích được áp dụng theo chức danh, vị trí công tác, chức trách và nhiệm vụ được giao. Trường hợp đảng viên giữ nhiều chức danh, thực hiện nhiều nhiệm vụ hoặc thuộc nhiều nhóm đối tượng thì phải tuân thủ giới hạn tương ứng với từng chức danh, nhiệm vụ và nhóm đối tượng, đồng thời bảo đảm yêu cầu kiểm soát xung đột lợi ích, bảo vệ bí mật Nhà nước và bí mật công tác.
Quy định phân loại hoạt động đầu tư kinh doanh thành 4 nhóm, gồm: hoạt động chuyên môn và khai thác tài sản tạo thu nhập; đầu tư kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành; đầu tư kinh doanh có thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành; và đầu tư kinh doanh có tham gia quản lý, điều hành.
Đối với đảng viên ngoài khu vực công, Quy định cho phép thực hiện tất cả các hoạt động đầu tư kinh doanh theo 4 nhóm nêu trên và các hoạt động khác mà pháp luật không cấm mà không phải xin chấp thuận của tổ chức đảng. Khi phát sinh xung đột lợi ích, đảng viên phải thực hiện báo cáo và kiểm soát theo quy định. Trường hợp được giao thực hiện nhiệm vụ công, đảng viên không được lợi dụng tư cách đảng viên, chức vụ trong Đảng hoặc quan hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để tạo lợi thế bất bình đẳng, tác động trái quy định hoặc phục vụ lợi ích riêng, lợi ích nhóm.
Đối với đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, được thực hiện mà không phải xin chấp thuận hoạt động chuyên môn, khai thác tài sản tạo thu nhập và đầu tư kinh doanh nhưng không thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối, quản lý, điều hành. Các hoạt động đầu tư kinh doanh có thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối, quản lý, điều hành thuộc trường hợp không được làm; đồng thời không được duy trì khoản đầu tư kinh doanh có xung đột lợi ích chưa được kiểm soát.
Đối với cán bộ, công chức không thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, ngoài các hoạt động được làm và không phải xin chấp thuận, cán bộ, công chức không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích được thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh có thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành sau khi được cấp có thẩm quyền chấp thuận. Tuy nhiên, cán bộ, công chức không được tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh có quản lý, điều hành; người đang ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích không được thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh thuộc nhóm bị hạn chế.
Đối với đảng viên là viên chức, Quy định mở rộng quyền tham gia đầu tư kinh doanh theo điều kiện cụ thể. Viên chức không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích được thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh có thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành mà không phải xin chấp thuận. Viên chức không giữ chức vụ quản lý và không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao có thể được chấp thuận tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh có quản lý, điều hành.
Đáng chú ý, viên chức không giữ chức vụ quản lý còn có thể được tạm thời rời vị trí công tác trong thời hạn nhất định để đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư chi phối, quản lý, điều hành tổ chức kinh tế. Trong thời gian này, viên chức vẫn phải kiểm soát xung đột lợi ích theo Quy định.
Đối với đảng viên đang công tác, phục vụ trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, các hoạt động đầu tư kinh doanh được thực hiện phải bảo đảm bí mật Nhà nước, bí mật công tác và không phương hại đến quốc phòng, an ninh. Đảng viên ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích không được thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh thuộc nhóm bị hạn chế; trong thời gian công tác, phục vụ, không được quản lý, điều hành tổ chức kinh tế, trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền phân công, giao nhiệm vụ.
Đối với đảng viên là người quản lý doanh nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước, Quy định cho phép thực hiện một số hoạt động đầu tư kinh doanh mà không phải xin chấp thuận, trong đó có việc mua, nhận, nắm giữ cổ phần, phần vốn góp và thực hiện quyền của cổ đông, thành viên tại doanh nghiệp do mình quản lý hoặc đại diện phần vốn nhà nước theo quy định pháp luật. Việc thực hiện quyền đối với phần vốn cá nhân phải tách bạch với chức trách quản lý, đại diện phần vốn nhà nước và bảo đảm kiểm soát xung đột lợi ích.
Các hoạt động đầu tư kinh doanh có thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối, quản lý, điều hành có thể được thực hiện sau khi được chấp thuận, nhưng không áp dụng đối với tổ chức, lĩnh vực có lợi ích liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp nhà nước mà đảng viên đó quản lý hoặc đại diện phần vốn nhà nước, trừ trường hợp được Quy định cho phép.
Đối với đảng viên trong khu vực công sau khi thôi giữ chức vụ, thôi công tác hoặc nghỉ hưu, Quy định khuyến khích phát huy chuyên môn, kinh nghiệm, tri thức và các nguồn lực hợp pháp để khởi nghiệp, đầu tư kinh doanh, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vẫn phải tuân thủ các hạn chế liên quan lĩnh vực, công việc đã phụ trách trong phạm vi và thời hạn theo quy định của pháp luật.
Kiểm soát chặt chẽ xung đột lợi ích, bảo đảm không lợi dụng nguồn lực công
Một trong những nội dung trọng tâm của Quy định số 224-QĐ/TW là thiết lập cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích gắn với chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của đảng viên.
Quy định xác định xung đột lợi ích là tình huống trong đó lợi ích của đảng viên hoặc người có liên quan tác động hoặc sẽ tác động không đúng đến việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của đảng viên. Người có liên quan bao gồm người thân thích của đảng viên hoặc tổ chức, cá nhân khác có quan hệ lợi ích với đảng viên theo quy định pháp luật.
Việc nhận diện, đánh giá xung đột lợi ích phải căn cứ vào mối liên hệ cụ thể giữa lợi ích kinh tế của đảng viên hoặc người có liên quan với chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn và công việc đảng viên thực hiện. Lợi ích được xem xét gồm lợi ích trực tiếp, gián tiếp và lợi ích thực tế được thụ hưởng, không phụ thuộc vào người đứng tên sở hữu tài sản hoặc trực tiếp thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh.
Khi phát sinh xung đột lợi ích hoặc khi cấp có thẩm quyền phát hiện và yêu cầu, đảng viên phải kịp thời báo cáo; không tham gia xử lý công việc có xung đột lợi ích chưa được kiểm soát, trừ trường hợp cấp có thẩm quyền cho phép. Cấp có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, quyết định biện pháp kiểm soát phù hợp với tính chất, mức độ xung đột lợi ích và theo dõi, giám sát việc chấp hành. Các cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm chia sẻ, khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu, hồ sơ quản lý theo thẩm quyền để bảo đảm thực hiện Quy định.
Đối với đảng viên trong khu vực công, Quy định đặt ra yêu cầu đặc biệt về việc sử dụng nguồn lực công. Đảng viên không được sử dụng trái quy định tài sản Nhà nước, thông tin, dữ liệu, nhân lực, kết quả nghiên cứu và các nguồn lực công khác để phục vụ hoạt động đầu tư kinh doanh của bản thân, người có liên quan hoặc nhóm lợi ích; không được đầu tư kinh doanh vào tổ chức kinh tế, lĩnh vực mà mình trực tiếp quyết định, quản lý; đồng thời không để hoạt động đầu tư kinh doanh ảnh hưởng đến việc hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.
Quy định cũng phân định rõ việc chấp thuận của tổ chức đảng với điều kiện đầu tư kinh doanh theo pháp luật. Theo đó, việc chấp thuận đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh do cấp có thẩm quyền quyết định theo phân cấp quản lý cán bộ. Đây là yêu cầu trong nội bộ Đảng và không thay thế điều kiện, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Về tổ chức thực hiện, Ban Bí thư có trách nhiệm ban hành hướng dẫn thống nhất trong toàn Đảng. Ban Chính sách, chiến lược Trung ương chủ trì, phối hợp với Đảng ủy Chính phủ, Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan liên quan rà soát, đề xuất tiêu chí về vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích; đồng thời theo dõi, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và đề xuất sửa đổi, bổ sung Quy định.
Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo việc thể chế hóa Quy định; Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương hướng dẫn, tổ chức thực hiện phù hợp với đặc thù của Quân đội, Công an. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng điển hình và tăng cường ứng dụng công nghệ số trong theo dõi, giám sát.
Ủy ban Kiểm tra Trung ương và ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện kiểm tra, giám sát theo chức năng, thẩm quyền; Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp Ban Chính sách, chiến lược Trung ương hướng dẫn quán triệt, tuyên truyền, thống nhất nhận thức trong toàn Đảng; Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện trong quá trình thể chế hóa và triển khai thực hiện.
Quy định số 224-QĐ/TW có hiệu lực kể từ ngày ký, thay thế Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đảng viên làm kinh tế tư nhân. Đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh hợp pháp trước ngày Quy định có hiệu lực được tiếp tục thực hiện cho đến khi pháp luật có quy định khác; hoạt động đầu tư kinh doanh được thực hiện sau ngày Quy định có hiệu lực phải tuân thủ Quy định số 224-QĐ/TW.