Kiểm soát thủ tục hành chính từ khâu đề xuất chính sách
Ngày đăng : 13:41, 12/10/2026
Kiểm soát thủ tục hành chính ngay từ khâu đề xuất chính sách
Nghị định số 385/2026/NĐ-CP quy định về kiểm soát việc quy định, thực hiện, rà soát, đánh giá thủ tục hành chính và quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính. Đối tượng áp dụng gồm cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương, người có thẩm quyền, cơ quan Trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc đóng tại địa phương, chính quyền địa phương, cá nhân, tổ chức trong hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính.
Theo Nghị định, kiểm soát thủ tục hành chính phải bảo đảm thực hiện có hiệu quả mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, cải cách hành chính; đồng thời bảo đảm sự tham gia của cá nhân, tổ chức và các bên có liên quan trong quá trình xây dựng, thực hiện và đánh giá thủ tục hành chính.
Một yêu cầu quan trọng được đặt ra là phải kịp thời phát hiện để bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung những thủ tục hành chính không phù hợp, phức tạp, phiền hà; bảo đảm thủ tục hành chính được ban hành đúng quy định, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, chi phí và công sức của đối tượng thực hiện cũng như cơ quan thực hiện thủ tục hành chính.
Đáng chú ý, Nghị định xác định kiểm soát thủ tục hành chính được thực hiện ngay từ khi đề xuất chính sách, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật và được tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính.
Cách tiếp cận này đặt yêu cầu kiểm soát thủ tục hành chính ngay trong quá trình hình thành chính sách và xây dựng pháp luật, thay vì chỉ tập trung vào khâu tổ chức thực hiện sau khi thủ tục đã được ban hành.
Cùng với đó, công tác kiểm soát thủ tục hành chính phải gắn với chuyển đổi số và quản trị dữ liệu; bảo đảm việc khai thác, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu trong toàn bộ quá trình giải quyết thủ tục hành chính.
Nghị định cũng quy định rõ hệ thống cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng kiểm soát thủ tục hành chính. Theo đó, Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác này; Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Bộ Tư pháp tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về kiểm soát thủ tục hành chính.
Tại các bộ, cơ quan ngang bộ, tổ chức pháp chế hoặc Văn phòng có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý.
Ở địa phương, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính.
Đối với cấp xã, Trung tâm Phục vụ hành chính công thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn. Trường hợp địa phương tổ chức theo mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp thì Văn phòng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ này.
Đặt yêu cầu chặt chẽ đối với việc quy định thủ tục hành chính
Nghị định số 385/2026/NĐ-CP quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả; không trái với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Đồng thời, thủ tục hành chính phải bảo đảm tính minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện; tiết kiệm thời gian và chi phí của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bảo đảm quyền bình đẳng của các đối tượng thực hiện thủ tục hành chính.
Các thủ tục có liên quan phải bảo đảm tính liên thông; việc phân công, phân cấp phải rõ ràng, minh bạch, hợp lý. Quy định thủ tục hành chính phải đầy đủ, cụ thể các bộ phận cấu thành; bảo đảm nguyên tắc số hóa, sử dụng, kết nối liên thông dữ liệu, định danh điện tử và chỉ cung cấp thông tin một lần trong giải quyết thủ tục hành chính.
Đáng chú ý, cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm đánh giá tác động thủ tục hành chính nếu giải pháp thực hiện chính sách, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định thủ tục hành chính.
Đối với những thủ tục hành chính có yêu cầu, điều kiện làm hạn chế quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng của cá nhân, tổ chức hoặc có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng, môi trường, Nghị định quy định yêu cầu, điều kiện của thủ tục hành chính phải được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ.
Nghị định cũng đặt ra yêu cầu cụ thể về các bộ phận cấu thành của một thủ tục hành chính. Theo đó, thủ tục hành chính phải có đầy đủ: tên thủ tục hành chính; trình tự thực hiện; cách thức thực hiện; thành phần, số lượng hồ sơ; thời hạn giải quyết; đối tượng thực hiện thủ tục hành chính; cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.
Trường hợp thủ tục hành chính phải có mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí thì các nội dung này là bộ phận cấu thành của thủ tục hành chính.
Trường hợp không quy định đầy đủ, cụ thể các bộ phận cấu thành thủ tục hành chính trong một văn bản thì phải giao cơ quan, người có thẩm quyền quy định nhằm bảo đảm đầy đủ, cụ thể các bộ phận cấu thành và bảo đảm có hiệu lực cùng thời điểm với văn bản giao quy định thủ tục hành chính hoặc thời điểm có hiệu lực của quy định thủ tục hành chính.
Một điểm đáng chú ý khác là quy định thủ tục hành chính phải bảo đảm quyền lựa chọn cách thức thực hiện của cá nhân, tổ chức; trong đó ưu tiên thực hiện trên môi trường điện tử và thực hiện không phụ thuộc vào địa giới hành chính.
Quy định này thể hiện yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức giải quyết thủ tục hành chính theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, đồng thời thúc đẩy việc ứng dụng dữ liệu và nền tảng số trong cung cấp dịch vụ hành chính.
Việc gắn kiểm soát thủ tục hành chính với chuyển đổi số, quản trị dữ liệu, định danh điện tử và nguyên tắc chỉ cung cấp thông tin một lần góp phần đặt ra yêu cầu cao hơn đối với quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện thủ tục hành chính. Qua đó, hướng tới giảm chi phí tuân thủ, hạn chế việc yêu cầu cung cấp lại thông tin đã có và nâng cao tính minh bạch, thuận tiện trong giải quyết thủ tục hành chính.
Nghị định số 385/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 10/10/2026.