Một số ý kiến về xử lý hành vi sử dụng giấy phép lái xe giả gây tai nạn giao thông
Ngày đăng : 11:20, 01/10/2026
1. Quy định của pháp luật liên quan đến xử lý hành vi sử dụng giấy phép lái xe giả gây tai nạn giao thông
Chế tài xử phạt vi phạm hành chính:
Nghị định số 168/2024/NĐ-CP ngày 26/12/2024 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ như trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe (GPLX) quy định các hình phạt hành chính đối với hành vi vi phạm quy định giao thông (vượt ẩu, chạy quá tốc độ, đi sai làn đường...) áp dụng trong trường hợp khi chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng về người và tài sản đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS). Nghị định này cũng quy định các mức phạt khác nhau trong trường hợp sử dụng giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp (Điều 18).
- Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015):
“ Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm…”
Ngoài ra, nếu gây thiệt hại về sức khỏe, tài sản đạt định lượng nhất định thì sẽ bị xử lý theo quy định tại các khoản 2, 3 của Điều này. Đặc biệt, tại điểm a khoản 2 Điều 260, tình tiết “không có giấy phép lái xe theo quy định" là một tình tiết định khung tăng nặng, đẩy khung hình phạt lên từ 03 năm đến 10 năm tù.
“Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Tại khoản 2,3 của Điều luật này quy định các tình tiết định khung tăng nặng, trong đó đáng lưu ý có tình tiết “sử dụng con dấu tài liệu thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng đến đặc biệt nghiêm trọng”… (quy định tại điểm d khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 341).
- Các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ:
Công văn số 71/TANDTC-V1 ngày 03/8/2020 của Tòa án nhân dân tối cao trả lời Bộ Công an, Công an Thái Nguyên về vụ việc sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức ở tỉnh Thái Nguyên: Theo quy định tại Điều 341 BLHS năm 2015 về Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, thì người phạm tội này khi thực hiện hành vi khách quan là sử dụng giấy tờ giả để thực hiện hành vi trái pháp luật. Đối với 30 trường hợp nêu trong Công văn, được xác định đã có hành vi vi phạm là sử dụng giấy phép lái xe giả để lưu thông. Hành vi vi phạm này có dấu hiệu của Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, nhưng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, nên không cấu thành tội phạm (theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015), mà chỉ thuộc phạm vi xử phạt vi phạm hành chính. Theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ, thì đây là hành vi “sử dụng giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp”. Do đó, Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thái Nguyên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những người vi phạm này là phù hợp.
Công văn số 163/TANDTC-PC ngày 10/9/2024 giải đáp vướng mắc trong xét xử hướng dẫn trường hợp “Nguyễn Văn A vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn chết người. Trong quá trình điều tra phát hiện, Nguyễn Văn A dùng giấy phép lái xe hạng B2 giả (Nguyễn Văn A cung cấp thông tin của mình cho đối tượng làm giả) để điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Trường hợp này ngoài việc Nguyễn Văn A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm về quy định tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2025 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), thì bị cáo còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, theo quy định tại Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Hai văn bản hướng dẫn nêu trên xác định 02 cách tiếp cận để xử lý khác nhau đối với hành vi sử dụng GPLX giả, cụ thể: (1) Nếu chỉ sử dụng GPLX giả để để lưu thông thì chỉ bị xử phạt hành chính. (2) Nếu sử dụng GPLX giả để lưu thông, nhưng sau đó gây tai nạn đến mức phải xử lý hình sự thì truy cứu TNHS cả 02 tội danh (Điều 260 và điều 341 BLHS năm 2015). Theo đó, cùng hành vi sử dụng giấy tờ giả nhưng nếu gây hậu quả khác nhau thì sẽ có cách thức xử lý khác nhau. Tất cả các hành vi sử dụng GPLX giả nếu không nhằm thực hiện tội phạm khác thì đều không truy cứu TNHS; trong khi đó, tất cả các hành vi sử dụng GPLX giả mà gây hậu quả tai nạn thì đều phải xử lý hình sự. Hướng dẫn như trên chưa bao quát và phân tách rõ ràng các trường hợp khác của hành vi sử dụng giấy tờ giả như: Tính nguy hiểm đối với các loại giấy tờ giả khác nhau là khác nhau; mục đích sử dụng giấy tờ chỉ để lưu thông, sử dụng giấy tờ để thực hiện tội phạm khác… gây khó khăn trong việc nhận thức và áp dụng pháp luật.
2. Vướng mắc trong thực tiễn giải quyết đối với trường hợp sử dụng giấy phép lái xe giả gây tai nạn giao thông
2.1 Về nhận thức và áp dụng pháp luật trong việc định tội danh
Đối với các hành vi “vi phạm về tham gia giao thông”, các yếu tố định lượng hậu quả đã tương đối đầy đủ, rõ ràng và thuận lợi cho việc đánh giá tính chất, mức độ để xử lý. Đối với hành vi “làm, sử dụng tài liệu giả”, cơ sở để phân định vi phạm hành chính và tội phạm hình sự chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố định tính do chưa có quy định cụ thể. Theo đó, không phải tất cả các hành vi sử dụng giấy tờ giả hay vi phạm quy định về tham gia giao thông đều truy cứu TNHS, mà tùy thuộc vào tính chất, mức độ, hậu quả của từng vụ việc cụ thể để xem xét xử lý theo quy định.
Thực tiễn xét xử tại Tòa án một số địa phương cho thấy, đối với tình huống sử dụng GPLX giả sau đó gây tai nạn giao thông, hiện tồn tại một số quan điểm xử lý khác nhau:
Một là, một số ít trường hợp, người điều khiển phương tiện mua GPLX giả, khi bị lực lượng tuần tra kiểm tra hành chính thông thường (chưa xảy ra va chạm, chưa gây tai nạn), cơ quan chức năng vẫn tiến hành giám định tài liệu, khởi tố, truy tố và xét xử độc lập về Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Điều 341 BLHS năm 2015).
Hai là, xử lý đồng thời 02 tội danh (Điều 260 và Điều 341 BLHS năm 2015) với đầy đủ các tình tiết định khung tăng nặng. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260) với tình tiết định khung tăng nặng “không có giấy phép lái xe theo quy định". Hành vi sử dụng GPLX giả cần được xem xét xử lý độc lập theo điều luật tương ứng (điểm a khoản 2 Điều 260 và khoản 1 Điều 341 BLHS năm 2015). Cũng có quan điểm cho rằng, ngoài việc xử lý độc lập hành vi “Sử dụng giấy tờ giả” cần xem xét truy cứu TNHS theo tình tiết định khung tăng nặng “để thực hiện tội phạm từ ít nghiêm trọng đến đặc biệt nghiêm trọng” (điểm a khoản 2 Điều 260 và điểm d khoản 2 Điều 341/ hoặc điểm b khoản 3 Điều 341 BLHS năm 2015)
Ba là, xử lý đồng thời tội danh độc lập, tuy nhiên không xem xét hành vi này là tình tiết định khung tăng nặng của tội danh còn lại. Nếu xử lý sẽ vi phạm nguyên tắc "không ai bị kết án hai lần cho cùng một hành vi/bản chất vi phạm", do đó chỉ xử lý đối tượng về khoản 1 theo tội danh tương ứng (khoản 1 Điều 260, khoản 1 Điều 341 BLHS năm 2015)
Bốn là, xem xét xử lý độc lập hai hành vi: Vi phạm quy định về tham gia giao thông (Điều 260) và sử dụng giấy tờ giả (Điều 341), trong đó việc truy cứu TNHS đối với mỗi tội danh nếu đủ yếu tố cấu thành tương ứng, nếu không đủ yếu tố cấu thành thì xử phạt hành chính theo quy định.
Như vậy, căn cứ theo quy định của pháp luật và thực tiễn xử lý tại các địa phương cho thấy, vẫn tồn tại nhiều quan điểm xử lý khác nhau đối với hành vi sử dụng giấy phép lái xe giả gây tai nạn giao thông, dẫn đến không bảo đảm tính thống nhất trong nhận thức, áp dụng pháp luật đối với cùng một loại hành vi.
2.2. Bình luận
Để làm rõ việc xử lý hai hành vi này là độc lập và không thể thu hút lẫn nhau, cần phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm của từng tội danh:
- Về chủ thể và ý thức chủ quan (yếu tố lỗi, động cơ, mục đích):
Giả định người thực hiện hành vi có đầy đủ năng lực TNHS.
- Đối với hành vi sử dụng GPLX giả (Điều 341 BLHS năm 2015): Lỗi của người phạm tội hoàn toàn là lỗi cố ý trực tiếp. Có nghĩa là người phạm tội biết rõ việc sử dụng GPLX giả để lưu thông là trái pháp luật nhưng vẫn sử dụng nhằm đối phó với cơ quan chức năng. Trong khi đó, đối với hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông dẫn đến tai nạn (Điều 260 BLHS năm 2015) là tội danh có lỗi vô ý. Người điều khiển phương tiện có thể cố ý đối với hành vi hành chính (chạy quá tốc độ, đi sai làn đường...) nhưng vô ý đối với hậu quả xảy ra.
Như vậy, về mặt logic và tâm lý học tội phạm, không một người điều khiển phương tiện giao thông nào lại mua và sử dụng GPLX giả với mục đích... để gây tai nạn giao thông. Gây tai nạn giao thông không phải là mục đích hay là hành vi có ý thức bởi công cụ là tấm GPLX giả. Hậu quả tai nạn xảy ra là do lỗi kỹ thuật vận hành phương tiện, vi phạm quy tắc an toàn giao thông đường bộ khi xử lý tình huống, không phải do GPLX giả. Hậu quả tai nạn giao thông xảy ra là nằm ngoài ý muốn chủ quan của họ. Do đó, không thể lấy hậu quả vô ý của vụ tai nạn giao thông để làm động cơ, mục đích hay làm yếu tố định tội cho hành vi cố ý sử dụng giấy tờ giả vốn đã hoàn thành trước đó.
- Về mặt khách thể và hành vi khách quan:
Hai tội danh này xâm phạm đến hai nhóm quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ hoàn toàn độc lập: Khách thể của Điều 341 BLHS năm 2015 là trật tự quản lý hành chính nhà nước, cụ thể là hoạt động đúng đắn, tính uy tín và tính xác thực của các văn bằng, chứng chỉ, con dấu, tài liệu do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành. Điều 341 BLHS năm 2015 có cấu thành hình thức. Trong khi đó, khách thể của Điều 260 BLHS năm 2015 là an toàn công cộng, trật tự an toàn giao thông đường bộ, trực tiếp đe dọa hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe và quyền sở hữu tài sản của những người tham gia giao thông khác. Tội danh quy định tại Điều 260 BLHS năm 2015 là cấu thành tội phạm vật chất.
Hành vi sử dụng giấy tờ giả và hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông vi phạm quy định về an toàn giao thông có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, không có hành vi nào là nguyên nhân hay là tiền đề của của hành vi còn lại. Việc thiếu kiến thức pháp luật, kỹ năng điều khiển phương tiện mới là nguyên nhân dẫn đến vi phạm quy định về tham gia giao thông và gây tai nạn giao thông. Hai hành vi xâm phạm các khách thể khác nhau, có cấu trúc của cấu thành tội phạm khác nhau (Điều 260 có cấu thành tội phạm vật chất có hậu quả xảy ra; Điều 341 có cấu thành hình thức, không cần có hậu quả). Như vậy, không thể lấy hậu quả của tội danh có cấu thành vật chất để làm căn cứ định tội cho một tội danh có cấu thành hình thức vốn đã hoàn thành kể từ khi thực hiện hành vi. Thêm vào đó, cần xem xét mối liên hệ giữa hành vi khách quan và hậu quả xảy ra trên thực tế. Không thể lập luận do sử dụng GPLX giả nên gây tai nạn giao thông, cũng không thể nói rằng, hậu quả tai nạn xảy ra là do người này sử dụng GPLX giả. Việc lấy hậu quả của hành vi vi phạm giao thông để kết luận xem hành vi sử dụng giấy tờ giả trước đó có nguy hiểm cho xã hội đến mức phải truy cứu TNHS hay không là không phù hợp với các nguyên tắc của BLHS.
3. Một số kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật
Để thống nhất nhận thức trong áp dụng pháp luật, chúng tôi đề xuất hoàn thiện pháp luật dựa trên cơ sở sau: Việc xử lý hình sự hay hành chính đối với hành vi cần được xem xét độc lập. Trong đó, hành vi sử dụng GPLX giả phải được xem xét trên cơ sở mức độ nguy hiểm cho xã hội của chính hành vi đó, phù hợp với Điều 8 BLHS năm 2015 và nguyên tắc cá thể hóa TNHS. Việc phân loại xử lý hành vi sử dụng GPLX giả cần dựa trên các tình huống pháp lý sau:
- Các trường hợp xử lý hình sự đối với hành vi sử dụng GPLX giả:
Hành vi sử dụng GPLX giả chỉ bị truy cứu TNHS độc lập theo Điều 341 BLHS năm 2015 khi bản thân hành vi đó tự thân chứa đựng tính nguy hiểm cao độ cho xã hội, hoặc nó là công cụ trực tiếp để thực hiện một tội phạm lừa dối, trục lợi khác:
Trường hợp 1: Việc sử dụng giấy tờ giả gây nguy hiểm lớn cho xã hội: Cần quy định cụ thể các loại GPLX mang tính chất chuyên môn cao, điều khiển các loại phương tiện có trọng tải lớn, kinh doanh vận tải, vận chuyển hành khách hoặc chất nguy hiểm (ví dụ: GPLX hạng B2, C, D, E, F...). Bởi vì, người không qua đào tạo mà sử dụng GPLX giả để điều khiển xe khách giường nằm, xe container, xe tải siêu trường siêu trọng... là hành vi mang tính nguy hiểm cao độ, đe dọa trực tiếp đến tính mạng của nhiều người bất cứ lúc nào. Bản thân việc vận hành các loại xe là nguồn nguy hiểm cao độ này bằng giấy tờ giả đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình thức mà không cần tai nạn xảy ra.
Trường hợp 2: Sử dụng giấy tờ giả làm phương tiện để thực hiện một hành vi vi phạm khác mà hành vi này nguy hiểm đến mức phải xử lý hình sự.
Trong trường hợp này, việc sử dụng giấy tờ giả được xem là một công cụ để đối tượng thực hiện hành vi tội phạm khác. Chẳng hạn, đối tượng sử dụng GPLX giả để lừa đảo chiếm đoạt tài sản (dùng GPLX giả để tạo lòng tin nhằm thuê xe tự lái, cầm cố xe,…). Sử dụng GPLX giả để gian lận, nộp hồ sơ ứng tuyển vào vị trí tài xế chuyên nghiệp tại các công ty vận tải hành khách, trường học, bệnh viện; sau đó quá trình làm việc do không có chuyên môn đã gây tai nạn giao thông nghiêm trọng. Trong tình huống này, hành vi sử dụng giấy giả là chuỗi hành vi lừa dối có mục đích rõ ràng vì vậy cấu thành tội phạm độc lập.
- Các trường hợp xử lý hành chính đối với hành vi sử dụng GPLX giả: (1) Trường hợp lưu thông thông thường: Người dân sử dụng GPLX giả (đặc biệt là các hạng xe máy như A1, A2 hoặc xe gia đình hạng B1) chỉ nhằm mục đích đối phó khi lưu thông trên đường hoặc đối phó với lực lượng kiểm tra hành chính, không có hành vi dùng giấy giả để lừa đảo, trục lợi;(2) Người vi phạm thực tế đã trải qua đào tạo, đã được cơ quan nhà nước cấp GPLX thật, nhưng sau đó làm mất hoặc bị hư hỏng, vì chưa làm thủ tục xin cấp lại, nên đã mua GPLX giả có thông tin trùng khớp với GPLX thật của họ. Nếu họ điều khiển xe gây tai nạn, hành vi gây tai nạn sẽ bị xử lý theo Điều 260 BLHS năm 2015, còn hành vi sử dụng GPLX giả đó chỉ nên xử phạt hành chính, vì họ có năng lực lái xe không phải do tính chất nguy hiểm của hành vi sử dụng giấy giả.
- Nguyên tắc giải quyết khi có hậu quả tai nạn giao thông xảy ra: Khi người sử dụng GPLX giả điều khiển phương tiện gây tai nạn giao thông đạt định lượng để truy cứu TNHS, cần xem xét áp dụng pháp luật theo hướng: (1) Tội danh chính: Khởi tố, truy tố người phạm tội về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260 BLHS năm 2015); (2) Định khung hình phạt: Áp dụng bắt buộc tình tiết định khung tăng nặng tại điểm a khoản 2 Điều 260 (Không có giấy phép lái xe theo quy định), bởi về mặt pháp lý, GPLX giả hoàn toàn không có giá trị chứng minh năng lực pháp lý, đồng nghĩa với việc người này thuộc trường hợp không có GPLX, áp dụng khung từ 03 đến 10 năm tù, bảo tính răn đe; (3) Xử lý hành vi bổ trợ (sử dụng GPLX giả): Chỉ khởi tố đồng thời hai tội danh (Điều 260 và Điều 341) nếu hành vi sử dụng GPLX giả đó rơi vào các trường hợp gây nguy hiểm đến mức phải truy cứu TNHS như đã phân tích ở mục 3.1; Nếu việc sử dụng GPLX giả thuộc nhóm 3.2 nêu trên (chỉ để đối phó, lưu thông), cơ quan tố tụng không khởi tố thêm Điều 341, hành vi sử dụng giấy giả sẽ bị tách ra xử phạt hành chính tịch thu tang vật và giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh. Điều này hoàn toàn phù hợp với lý luận khoa học hình sự về việc phân hóa TNHS, đồng thời bảo đảm không áp dụng hai chế tài hình sự lặp lại cho cùng một bản chất sai phạm (bản chất không có bằng cấp đã bị phạt nặng ở Điều 260 năm 2015).