Ban hành Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia

Ngày đăng : 10:26, 01/10/2026

(Kiemsat.vn) - Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1875/QĐ-TTg ngày 30/9/2026 ban hành Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia (Phiên bản 1.0), nhằm thiết lập quy hoạch tổng thể cấp quốc gia về công nghệ, dữ liệu và quy trình phòng thủ, bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong toàn hệ thống chính trị.

Khung kiến trúc cụ thể hóa các thành phần an ninh mạng dùng chung được quy định tại Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, đồng thời phù hợp với nguyên tắc dùng chung, chia sẻ tài nguyên, tránh đầu tư thừa, trùng lặp theo quy định tại Điều 6 và Điều 30 Nghị định số 331/2026/NĐ-CP.

Trung tâm Giám sát an ninh mạng. (Ảnh minh họa)

Hình thành kiến trúc an ninh mạng thống nhất trong toàn hệ thống chính trị

Theo Khung kiến trúc, các thành phần an ninh mạng dùng chung gồm: Nền tảng điều hành an ninh mạng quốc gia, có chức năng giám sát, điều phối và chỉ huy ứng phó sự cố an ninh mạng thống nhất; Nền tảng phòng vệ mạng quốc gia, là hệ thống lá chắn bảo vệ biên giới số và các hệ thống trọng yếu; Hạ tầng bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu đầu cuối, bảo vệ thiết bị và người dùng cuối trong các cơ quan, tổ chức; cùng các hệ thống chuyên ngành an ninh mạng thuộc nhóm các nền tảng số dùng chung quốc gia.

Khung kiến trúc xác định rõ các thành phần an ninh mạng dùng chung trong toàn bộ hệ thống chính trị, làm căn cứ để các cơ quan, đơn vị, địa phương xây dựng và triển khai các giải pháp công nghệ thành phần, bảo đảm đồng bộ, thống nhất về tiêu chuẩn kết nối và dữ liệu.

Về phạm vi áp dụng, Khung kiến trúc quy định các yêu cầu cơ bản về kết nối, chia sẻ dữ liệu giám sát an ninh mạng; yêu cầu không đầu tư trùng lặp đối với những thành phần an ninh mạng dùng chung đã được cung cấp; đồng thời xác định các yêu cầu tối thiểu bảo đảm an ninh mạng theo cấp độ hệ thống thông tin.

Khung kiến trúc cũng là mô hình tham chiếu để các cơ quan, tổ chức xây dựng, cập nhật thành phần an ninh mạng trong Khung kiến trúc số của mình. Đối tượng áp dụng gồm các Bộ, cơ quan ngang bộ; UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các tổ chức chính trị - xã hội sử dụng ngân sách nhà nước; các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập vận hành các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

Cùng với đó là các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân.

Các yêu cầu kỹ thuật cụ thể về thành phần an ninh mạng theo từng cấp độ hệ thống thông tin được thực hiện theo Nghị định số 331/2026/NĐ-CP và Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14423:2026 “An ninh mạng - Hệ thống thông tin - Yêu cầu cơ bản”, không nhắc lại trong Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia. Nghị định số 331/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 19/8/2026, quy định về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin và có hiệu lực từ cùng ngày.

Kiến trúc gồm 4 lớp, kết nối quốc gia với địa phương và từng ngành

Các hợp phần bảo đảm an ninh mạng quốc gia được xây dựng theo hướng thống nhất, đồng bộ và tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số. Toàn bộ kiến trúc giải pháp bảo đảm an ninh mạng quốc gia gồm hai nhóm hợp phần chính: Kiến trúc An ninh mạng quốc gia, được xác định là Hợp phần Trụ cột; và thành phần bảo đảm an ninh mạng trong Khung kiến trúc số của các cơ quan, tổ chức, được xác định là Hợp phần Vệ tinh.

Kiến trúc An ninh mạng quốc gia được thiết kế theo tư duy phòng thủ chủ động, tích hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số và cấu trúc thành 4 lớp chức năng liên kết chặt chẽ, gồm:

Lớp 1 - Hạ tầng an ninh mạng dùng chung trong toàn hệ thống chính trị;

Lớp 2 - Dữ liệu chia sẻ dùng chung trong toàn hệ thống chính trị;

Lớp 3 - Nền tảng ứng dụng, nghiệp vụ an ninh mạng dùng chung trong toàn hệ thống chính trị;

Lớp 4 - Kênh tương tác và đo lường.

Trên cơ sở kiến trúc quốc gia, Khung kiến trúc đưa ra mô hình tham chiếu cấp tỉnh để UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bổ sung các thành phần an ninh mạng vào Khung kiến trúc số cấp tỉnh. Mô hình này xoay quanh việc hình thành và vận hành Trung tâm an ninh mạng cấp tỉnh, do Công an tỉnh chủ trì quản lý, vận hành.

Kiến trúc tham chiếu cấp tỉnh cũng tuân thủ cấu trúc 4 lớp, gồm: Hạ tầng an ninh mạng cấp tỉnh; Dữ liệu an ninh mạng cấp tỉnh; Nền tảng ứng dụng, nghiệp vụ an ninh mạng cấp tỉnh; Kênh tương tác và đo lường cấp tỉnh.

Đối với các cơ quan, đơn vị khác trong hệ thống chính trị, Khung kiến trúc đưa ra mô hình tham chiếu áp dụng cho các cơ quan khối Đảng, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang bộ, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước quan trọng và các cơ quan, đơn vị khác.

Mô hình nhằm định hướng xây dựng thành phần an ninh mạng trong Khung kiến trúc số của từng ngành, lĩnh vực, bảo đảm đồng bộ và có khả năng liên kết với Kiến trúc An ninh mạng quốc gia. Cấu trúc vẫn gồm 4 lớp, nhưng được điều chỉnh phù hợp với phương thức quản lý theo ngành dọc và yêu cầu bảo mật đặc thù của các cơ quan Trung ương.

Cụ thể, gồm: Lớp 1 - Hạ tầng an ninh mạng; Lớp 2 - Dữ liệu an ninh mạng cấp bộ/ngành/tổ chức; Lớp 3 - Nền tảng ứng dụng, nghiệp vụ an ninh mạng cấp bộ/ngành/tổ chức; Lớp 4 - Kênh tương tác và đo lường cấp bộ/ngành/tổ chức.

Việc ban hành Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia (Phiên bản 1.0) tạo cơ sở kiến trúc thống nhất để kết nối các thành phần an ninh mạng dùng chung với hệ thống của từng cơ quan, địa phương, ngành, lĩnh vực; đồng thời đặt ra yêu cầu triển khai theo hướng dùng chung, chia sẻ dữ liệu, hạn chế đầu tư trùng lặp và bảo đảm khả năng liên thông trong toàn hệ thống chính trị.

Phan Anh